Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÁC HỌA CHÂN DUNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÁC HỌA CHÂN DUNG. Hiển thị tất cả bài đăng

THẨM TRÚC NHƯNG VÀ PHÁI PHONG THỦY HUYỀN KHÔNG



Họ Thẩm người Tiền Đường, tên Thiệu Huân hiệu Trúc Nhưng. Năm ông mười ba tuổi, Kim Tiền bang nổi loạn ở Triết Giang, thành Hàng Châu bị vây hãm. Gia đình ông toàn bộ bảy người tuẫn nạn, mẹ ông nhảy xuống giếng tự vẫn, từ đó gia phá nhân vong. Riêng họ Thẩm thì bị bọn phỉ bắt mang tới Tùng Giang. 

Sơn Nhâm hướng Bính - Vận 1.
Năm sau tướng ngoại quốc Hoa Nhĩ đánh bại bọn phỉ cứu họ Thẩm ra, đồng thời nhận ông làm con nuôi. Về sau Hoa Nhĩ trong trận chiến ở Từ Khê, Chiết Giang bị trúng thương tử nạn sa trường, đích thân ông  an táng cho cha nuôi. Đến năm ông mười lăm tuổi, họ Đào là vợ Hoa Nhĩ cũng qua đời. Từ đó ông làm việc cho một viên tướng người Anh, chuyên giảng giải binh pháp, huấn luyện tân binh. 
Tới tuổi trung niên ông chuyển sang làm thương mại. Thẩm Trúc Nhưng trước sau có ba người vợ là họ Ngô, họ Tạ, họ Viên. Hai người vợ họ Ngô và họ Tạ mất sớm, còn họ Viên sinh được hai trai hai gái.

     Về phương diện phong thủy, từ nhỏ Thẩm Trúc Nhưng đã bái sư học thuật phong thủy với một vị lão sư, nhưng chỉ học được một ít lý luận sơ sài. Lớn lên ông càng say mê môn phong thủy, thường chu du khắp nơi để học hỏi với đồng đạo. Nhờ thiên tư thông tuệ, trước năm hai mươi tuổi, ông bỏ công nghiền ngẫm không biết bao nhiêu thư tịch về phong thủy.

     Lúc này Thẩm Trúc Nhưng đã kết giao được khá nhiều người tinh thông trong giới. Đáng tiếc một điều là, do lời của thầy ông nói rằng: “Phái Huyền Không không phải là chính phái, không đáng học”, nên đương thời ông xem phái Huyền Không như con thú dữ mà tránh xa. Lúc bấy giờ Tưởng Đại Hồng được tôn là đầu não của phái Huyền Không, vì vậy ông xem Tưởng Đại Hồng là đại địch.

      Đến năm Tân Mùi được hai mươi bốn tuổi, ông thay thế tổ tiên tìm được một địa huyệt “Sơn Nhâm Bính hướng”, hình thế sơn thủy rất hữu tình. Để hoàn thiện trình độ xem phong thủy của mình, Thẩm Trúc Nhưng đã tụ tập tổng cộng mười tám vị thầy địa lý các phái ở Giang Nam, chỉ trừ những người theo phái Tưởng Đại Hồng. Kết quả là mười tám vị thầy địa lý nọ đều công nhận đây là cuộc đất rất tốt.

      Không ngờ tin tức này đến tai một quan viên, ông ta cậy thế và dùng rất nhiều vàng để mua lại huyệt địa này, Thẩm Trúc Nhưng đành cam chịu.

      Cuối năm Tân Mùi, vị quan viên nọ táng cha mẹ ở huyệt địa. Không ngờ sau đó hai cha con quan viên nọ đều phạm án mà mất chức, bị biếm đi đày, giữa đường thì chết, rốt cuộc gia đình tan tác. Thẩm Trúc Nhưng sau khi biết sự việc này thì kinh hãi không thôi, ông cảm thấy bứt rứt và tự cho mình có lỗi, vì chính huyệt địa này do chính do ông tìm ra.

      Sau đó ông lại tụ tập các thầy địa lý để khảo sát cuộc đất thêm một lần nữa, nhưng rốt cuộc thì ý của các thầy địa lý nọ vẫn giống như trước đây, tức cho rằng cuộc đất này là cát địa, vả lại còn không phạm kị thần sát nào, mọi người đều không hiểu nổi vì sao lại dẫn đến chuyện gia đình quan viên nọ có kết quả bi thảm như vậy.

      Về sau có một lần, Thẩm Trúc Nhưng cùng với một người bà con bên vợ Hồ Bá An du lịch tới Hàng Châu tình cờ ông phát hiện trong rương hành lý của Hồ Bá An có cuốn “Bí Bản” của Khương Thổ (họ Khương là một trong những đệ tử của Tưởng Đại Hồng). Trong “Bí Bản” có ghi rằng: “ Sơn Nhâm hướng Bính, sơn Bính hướng Nhâm của vận 1 phạm vào phản ngâm, phục ngâm nếu táng huyệt này này họa đến lập tức” nhưng trong sách lại hoàn toàn không đề cập đến các vận khác. Thẩm Trúc Nhưng nhớ lại lúc vị quan viên táng bố mẹ đúng là ở vận 1, và lại còn đúng sơn Nhâm hướng Bính thuộc phản ngâm, phục ngâm. Thế là một lần nữa ông lại tụ tập ba mươi mốt vị thầy địa lý để nghiên cứu cuộc đất, nhưng thảy đều không hiểu, chỉ kết luận” Có lẽ do ngẫu nhiên mà thôi”.

      Lúc bấy giờ Thẩm Trúc Nhưng không còn dám khinh thường phái Huyền Không như trước, ông bèn tìm các sách do Tưởng Đại Hồng trứ tác hoặc chú giải để nghiền ngẫm nghiên cứu, đáng tiếc là vẫn không dò ra được đầu mối, đối với lý thuyết Huyền Không ông vẫn chẳng hiểu gì.

      Tới năm Đồng trị Qúy Dậu (tức năm 1873), Thẩm Trúc Nhưng đã hai mươi sáu tuổi, ông nghe đồn ở địa phương Vô Tích có một vị đại sư phong thủy rất nổi danh, tên là Chương Trọng Sơn, cùng thuộc phái Huyền Không, tương truyền sở học phong thủy của tiên sinh Chương Trọng Sơn rất cao siêu, một khi ông đã xem đất cho ai thì vận trình của con cháu họ đều được cải thiện.

      Vì vậy, Thẩm Trúc Nhưng bèn cùng Hồ Bá An tới đất Vô Tích hỏi thăm hậu duệ của Chương Trọng Sơn về lý thuyết phái Huyền Không (lúc bấy giờ họ Chương đã qua đời), nhưng hai người ở đất Vô Tích nhiều tháng trời mà con cháu của Chương Trọng Sơn vẫn không tiết lộ lời nào.

      Cuối cùng Thẩm Trúc Nhưng nghĩ ra một cách là dùng thật nhiều vàng bạc để mượn cuốn “ Trạch đoán” (tức cuốn Âm Dương nhị trạch lục nghiệm) do Chương Trọng Sơn trứ tác chỉ trong vòng một ngày một đêm. Con cháu họ Chương thầm nghĩ trong thời gian ngắn như vậy thì không ai có thể hiểu nổi bí mật của phái Huyền Không, huống hồ sách “Trạch đoán” chỉ ghi chép những chứng nghiệm thực tế mà không viết những bí quyết bài bố tinh bàn, cho nên có chép hết cuốn sách cũng chẳng làm được gì, thế là họ cho mượn sách để lấy vàng.

      Mượn được sách, Thẩm Trúc Nhưng và Hồ Bá An suốt đêm không ngủ, nỗ lực chép hết cuốn “Trạch đoán” không sót một chữ. Sau khi họ rời Vô Tích, Thẩm Trúc Nhưng nghiên cứu không biết mệt mỏi, nhưng thật đáng tiếc, ngày cứ trôi qua mà ông vẫn không hiểu được gì. Thuật phong thủy của Chương Trọng Sơn là thuộc phái Huyền Không Phi tinh, ThẩmTrúc Nhưng vốn không chút căn cơ , tự mình tự nghiên cứu quả rất khó khăn. Tuy vậy ông vẫn không nản lòng, cứ nghiên cứu tiếp.

       Một ngày nọ , Thẩm Trúc Nhưng đọc sách Dịch lý tới đoạn viết về hình đồ Lạc Thư, trong diễn giải về nguyên lý số 5 (Ngũ) nhập trung cung, ông hốt nhiên thông suốt, hiểu ra quỹ tích của Tinh bàn Huyền Không Phi tinh là do Lạc Thư mà ra. Sau đó ông lại học rất nhiều sách diễn giải Dịch học, đối với ông lúc này sở học của Chương Trọng Sơn đã không còn là điều bí ẩn. Sau đó ông mang cuốn “Trạch đoán” ra chú giải lại.

      Thường ngày Thẩm Trúc Nhưng rất oán tiên sinh Tưởng Đại Hồng, vì họ Tưởng được Vô Cực Tử chân truyền môn Huyền Không, nhưng tiên sinh chấp trước câu “Thiên cơ bất khả tiết lộ” nên chỉ bí mật truyền thụ cho một số ít đệ tử, đồng thời cấm đệ tử của mình phổ biến rộng rãi bí quyết này. Vì nguyên do đó, Thẩm Trúc Nhưng tự mình tìm ra bí mật này, ông đã trứ tác và truyền bá rộng rãi sở học phong thủy của mình cho mọi người. Người theo học ông khá đông. Trong số đệ tử có con của ông là Tổ Miên ( tự là Điệt Dân), Giang Chí Y, Hồ Bá An đã tham gia chỉnh lý di cảo của ông thành bộ “Thẩm thị Huyền Không học”.


LƯỢNG THIÊN XÍCH
Trích từ Thẩm Thị Huyền Không Học
Share:

TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), huý là Văn Đạt, tự Hanh Phủ, người làng Trình Tuyền (Trung An), huyện Lĩnh Lại, tỉnh Hải Dương xưa, nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng.


Nguyễn Bỉnh Khiêm là học trò của bảng nhãn Lương Đắc Bằng. Vì tình hình đất nước lúc bấy giờ không ổn định, nên mãi đến năm Giáp Ngọ, khi đã bốn mươi ba tuổi ông mới đi thi hương và đỗ ngay giải nguyên. Sau đó đỗ hội nguyên rồi đỗ trạng nguyên năm thi Ất Mùi, niên hiệu Đại chính thứ sáu (1535), đời Mạc Thái Tông. 

Ông làm quan Đông các hiệu thư, Lại bộ Tả Thị Lang, kiêm Đông các đại học, tước Trình Tuyên hầu. Làm quan cho nhà Mạc được tám năm, thấy gian thần hoành hành, ông đã dâng sớ vạch tội và xin chém đầu mười tám tên lộng thần. Vua không nghe, ông liền trả áo mũ, xin về quê, dựng am dạy học. Học trò ông có nhiều người nổi tiếng như Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ... 


Trong khi ở ẩn, Vua Mạc cũng như các chúa Trịnh, Nguyễn có việc hệ trọng vẫn cho người đến hỏi ý ông. Ông thường kín đáo khuyên Vua cố gắng tránh chiến tranh để nhân dân khỏi chết chóc. 


Lúc mất, ông được Vua Mạc truy phong tước Trình Quốc công, do đó mà có tên gọi là Trạng Trình. Ông mất ngày 28 tháng 11 năm Đinh dậu, niên hiệu Diên Thành thứ 8 nhà Mạc (1585), tròn 94 tuổi. 


Người đàn bà nuôi chí lớn 


Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh ra từ một cuộc hôn nhân không bình thường, và phần chủ động thuộc về mẹ ông, Nhữ Thị Thục, người đất Tiên Minh, làng An Tử hạ. Ngoại của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Nhữ Văn Lan, một người thông minh khác thường từ tấm bé, khi lớn lên đã làm rạng rỡ dòng họ và quê hương với bảng vàng tiến sĩ, khoa thi năm Quí mùi, niên hiệu Quang Thuận, đời Lê Thánh Tông, được nhà Vua tin dùng, phong chức Thượng thư bộ Hộ. 


Theo người ta kể lại thì bà Nhữ Thị Thục là bậc nữ lưu phong vận tài hoa vào bậc nhất chốn kinh kỳ thời bấy giờ. 


Điều khó hiểu là suốt thời kỳ con gái, theo cha, với những cuộc giao thiệp hết sức rộng rãi mà địa vị người cha cho phép, bà vẫn hoàn toàn thờ ơ với tất cả, từ ông trạng, ông nghè, ông tổng. Có lẽ trong quan niệm riêng của bà thì tất cả những tài năng của những con người ấy chỉ đủ để thi đỗ làm quan, phục tùng vua. Tuổi trẻ bà trôi qua với những cuộc giao du sơn thuỷ. 


Thế rồi chỉ một lần gặp gỡ với ông đồ nhà quê tên Nguyễn Văn Định bà đã tự nguyện gá nghĩa. Bà Thục rất tinh thông thuật số, bà đến với ông Định chỉ vì nhận thấy ở ông có tướng sinh quý tử. Từ nhỏ, bà đã nuôi chí lớn: chồng bà phải là Vua, hoặc sinh con ra làm Vua. Bà cũng đoán trước, ngay từ thời nhà Lê còn cực thịnh, bước đường suy vong của triều Lê chẳng còn bao xa. Nhưng rồi thực tế dường như đã không đáp ứng được mong muốn của bà, "quý tử" của bà sau này danh vọng lắm chỉ đỗ trạng nguyên là cùng. Vì vậy, giữa hai vợ chồng thường xảy ra xích mích. 


Lần nọ, bà Nhữ Thị Thục đi chợ, ông Văn Định ở nhà trông con. Ông buộc dây vào cành tre, kéo lên, kéo xuống cho con chơi và nói: 


- Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung! 


Tưởng con không biết gì, chẳng ngờ Văn Đạt (tên lúc nhỏ của Bỉnh Khiêm) nói: 


- Vịn tay tiên, nhè nhẹ rung. 


Khi bà Thục về, Văn Định khoe chuyện ấy bảo là con trai họ thông minh. Không dè, bà Thục nói: 


- Nguyệt tượng trưng cho bầy tôi! Nuôi con mong thành Vua, thành Chúa, chứ thành bầy tôi thì nói làm gì. 


Lần khác, biết vợ thường soạn những câu ca để dạy con và ghi lại trong sách, khi vợ đi vắng. Văn Định lấy sách của vợ tìm một câu để dạy con, thấy câu: 


"Bống bống, bang bang, ngày sau con lớn, con tựa ngai vàng" 


Văn Định hoảng sợ, cho là ý kiến phản nghịch, có thể bị tội chém đầu, bèn chữa chữ "tựa" thành "vịn". Bà Thục về đến, biết chuyện này bực lắm. 


- Sinh con ra, mong con làm vua thiên hạ. Nay thầy nó dạy con làm tôi, chán quá! Rất tiếc thân này là phận gái. 


Vì nhiều quan niệm bất đồng, bà Thục đã bỏ nhà ra đi, không bao giờ trở lại với chồng và con, cho cả đến khi nhắm mắt cũng vậy. 


Tương truyền khi còn sống với Văn Định, có lần bà Thục ra Đồ Sơn, gặp một người dân chài, oai vệ, cao to, sắc sảo, vừa thi trúng võ cử, sắp đi làm lính túc vệ, bà giật mình than rằng: Người này mới thật là người mà ta mong ước - Tiếc thay khi đó bà đã là gái có chồng. 


Người ấy, sau này cướp ngôi nhà Lê, lên làm Vua, mở đầu cho triều Mạc (1527), Mạc Đăng Dung. 


Có truyền thuyết cho rằng, sau khi bỏ đi, bà Thục đã bước thêm bước nữa, ít lâu sau sinh hạ ông Phùng Khắc Khoan. Về sau Phùng Khắc Khoan theo học Nguyễn Bỉnh Khiêm, được ông coi như em ruột. Như vậy, tuy bà Thục có hai người con đều đỗ đạt và đều nổi tiếng, nhưng dù sao thì bà cũng không đạt được cái chí lớn lao của mình. 


Số chỉ làm Trạng 

Nguyễn Bỉnh Khiêm thông minh lạ thường. Đầy thôi nôi đã biết nói, lên bốn được mẹ dạy cho học thuộc lòng các bài chính nghĩa của kinh, truyện cùng với mười bài thơ Nôm. 

Tương truyền một hôm, bà Thục đưa Nguyễn Bỉnh Khiêm về quê ngoại thăm gia đình, dọc đường gặp một thầy tướng số Trung Hoa. Thấy Bỉnh Khiêm có tướng mạo lạ thường, ông bèn nói: 


- Đứa trẻ này về sau có thể làm tới ngôi vương. 


Nhưng rồi sau khi xem kỹ lại, ông than: 


- Da khô quá, thật là đáng tiếc! Cùng lắm chỉ là trạng nguyên mà thôi. 


Tuy thất vọng, nhưng bà Thục vẫn không thôi nuôi chí lớn. Bà hi vọng "nhân định thắng thiên", bà mong rằng với âm trạch của tiền nhân, quyết sau này con bà phải ở ngôi thiên tử, để lại tiếng thơm cho muôn thế hệ mai sau. 


Nhưng rồi thực tế đã không đáp ứng được mong mỏi của bà. Đứa con mà bà xem là "quý tử" ấy đã không theo kịp mẫu người lý tưởng mà bà hằng tìm kiếm. Bà xem như cuộc đời mình đã bỏ đi. Và đường công danh của Nguyễn Bình Khiêm sau này như thầy tướng số Trung Hoa dự đoán: Số ông chỉ làm trạng nguyên. 


Thái Ất Thần Kinh 

Thấy con học giỏi hơn người, cha mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm quyết định cho con theo học quan Bảng nhãn Lương Đức Bằng, người làng Hội Trào, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hoá. 

Nguyễn Bỉnh Khiêm học rất giỏi lại nổi tiếng về văn thơ. 


Một hôm, cụ Lương Đức Bằng ốm, biết rằng mình không sống lâu được nữa bèn gọi Nguyễn Bỉnh Khiêm lại, chỉ cho ông một cái tráp nhỏ, đặt ở đầu giường, rồi bảo: 


- Con hãy mang tráp đến đây, rồi mở ra lấy một bộ sách mà ta đã gói kỹ vào để sẵn trong ấy. 


Nguyễn Bỉnh Khiêm vâng lời, làm theo ý thầy. Cụ Bằng lại bảo tiếp: 


- Thầy cho con quyển sách này, vì thầy nghĩ chỉ có con mới có thể hiểu nổi, nhưng con phải hứa với thầy là phải giữ gìn sách cẩn thận. Quyển sách này liên quan đến một việc khá li kỳ, thầy sẽ kể con nghe. Lần trước, khi thầy đi sứ qua Tàu, lúc trở về nước, có một cụ khách già trao cho thầy quyển sách. Thầy tưởng cho thầy nhưng sau đó, cụ ấy lại nói: "Ta không cho ngươi, ta chỉ nhờ người đem về giao lại cho một người An Nam". Thầy rất ngạc nhiên khi không nghe cụ già ấy nói đến tên họ người mà cụ muốn gửi gắm. Cụ già liền xua tay: "Không cần. Chừng nào trong tâm linh nhà ngươi muốn cho ai thì người ấy sẽ được phần". Nói xong, ông cụ ấy bỏ đi mất, chừng đó, thầy mới hiểu ông ấy là một dị nhân. Nay, thầy giao quyển sách này lại cho con, ấy là con có phần. 


Nghe lời thầy, Nguyễn Bỉnh Khiêm mang sách về nhà, mở ra đọc. Cảm thấy không lĩnh hội được gì mấy, ông bèn mang sách cất đi, thỉnh thoảng lại lấy ra đọc, đọc xong rồi lại cất, cứ như thế mãi. Cho tới một hôm, có một người khách đến cho Nguyễn Bỉnh Khiêm một bài thơ. Ông giở ra xem thì thấy ngụ ý của bài thơ có phần liên hệ với những câu trong bộ sách của thầy Bằng trao, mà ông đã cất công sức đọc nhiều lần nhưng không sao thông được. Bộ sách ấy chính là bộ Thái Ất Thần Kinh mà thầy Bằng để lại cho người học trò cừ khôi của mình. 


Nhờ quyển sách này mà về sau Nguyễn Bỉnh Khiêm tinh thông số học, tinh thông mọi sự đời, đoán được thế cuộc, nổi tiếng văn hay. 


Lấy tử vi cho cái quạt 

Vào một ngày mùa hạ, bà trạng đi chợ mua về cho cụ trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm một cây quạt giấy. 

Trạng tính ngày giờ, rồi lấy cho cây quạt một lá số tử vi. Trạng đoán ra cái ngày chết. Việc làm ấy, trạng bí mật không cho ai hay. Trạng lại nghĩ: 


- Nếu để dùng lâu ngày nó sẽ rách hoặc thất lạc đi, như vậy "cái ngày chết" của nó ắt sẽ xảy ra và xảy ra rất bình thường. Nếu đúng như nó có số thật, không ai có thể ngăn cản được, thì sao ta chẳng mang cất nó đi, để xem tới ngày ấy, nó có chết thật hay không? 


Nghĩ thế, nên trạng Trình niêm phong ngay cây quạt rồi treo nó lên chỗ kín đáo nhất. Tới ngày, cây quạt vẫn còn nguyên. Hôm đó, suốt từ sáng tới chiều, trạng Trình cứ ở nhà, quanh quẩn ở nơi để quạt, xem nó chết ra sao. Thỉnh thoảng trạng lại ngắm nghía và lấy tay phủi những hạt bụi bám xung quanh. 


Vừa lúc ấy, có khách đến mời trạng sang ăn giỗ, ông từ chối không đi, cho rằng trạng giận việc gì nên đánh tiếng nhờ bà trạng. 


Từ sáng, thấy cử chỉ kỳ dị của chồng, bà trạng đã chướng mắt lắm rồi, nên khi được khách cậy nhờ, bà liền đốc thúc trạng: 


- Ông ở nhà làm gì, người ta nghĩ tình nên sang mời, mà ông nỡ từ chối. Tôi mua quạt về cho ông dùng, chớ đâu phải để ông mang cất đi, rồi cứ ra vào mà phủi bụi cho nó như đầy tớ thế. 


Vừa nói, bà trạng vừa giật lấy cây quạt xé nát tan ra từng mảnh vụn. Thấy vậy, trạng cười nói: 


- Ra là thế. Cuối cùng thì ta đã biết được nó chết thế nào. 


Rồi mặc cho bà trạng đứng ngẩn người ra không hiểu, trạng khăn áo chỉnh tề đi sang nhà người khách lúc sáng để ăn giỗ. 


Ngựa đá qua sông 

Dòng sông Thái Bình hiền hoà, bình lặng, chiếc đò ngang nho nhỏ vẫn cần mẫn đi về, nối liền đôi bờ. Bên này là đất Vĩnh Lại, nơi quê hương của trạng, một vùng đất hiếu học và trọng khoa cử. Nhưng học thì rất nhiều mà đỗ đạt thì lại ít, chẳng mấy ai làm nên những sự nghiệp lớn lao. Có thể xem vùng đất này: 

"Tuấn kiệt như sao buổi sớm 

Nhân tài như lá mùa thu" 
(Bình Ngô Đại Cáo - Nguyễn Trãi) 

Dân miền Vĩnh Lại ấm ức vô cùng, họ tìm đến hỏi trạng cho ra nhẽ, song trạng không trả lời gì khác hơn ngoài câu: 


- Thiên cơ bất khả lậu! 


Dân chúng thầm bất mãn, cho rằng trạng thâm hiểm, nhỏ mọn, biết mà không nói để bản thân riêng hưởng. 


Nghe tin ấy, trạng rất phiền lòng nhưng rồi thông cảm cho sự nôn nóng, sốt ruột của dân làng, trạng lại bỏ qua. Sau đó, trạng bèn làm một con ngựa, trạng còn cho thợ khắc hai câu thơ bằng chữ nho: 


"Hà thời thạch mã độ giang 

Thử thời Vĩnh Lại nghinh ngang công hầu". 

Tạm dịch như sau: 


"Bao giờ ngựa đá sang sông 

Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng" 

Ngựa vừa dựng lên, dân làng rủ nhau đến xem rất đông… 


Kể từ đó, ngày lại ngày, họ cứ chờ đợi, mong ngóng, có người tin tưởng tương lai xán lạn không xa, nhưng cũng có người lại cho rằng trạng nói thế chỉ để trấn an dân làng, chứ làm gì có chuyện ngựa đá biết đi, nói chi đến việc lội sang sông được mà hòng những chức như quận công, đô đốc. 


Nhưng rồi người dân Vĩnh Lại đã thoả nguyện, ngày lại ngày, dòng sông cuộn chảy mang theo phù sa bên lở, bên bồi. Con sống Vĩnh Lại lở thêm để bồi sang bên kia, đến cuối đời Hậu Lê thì con ngựa đá đã sang sông thật. người thì vui mừng, người thì hối tiếc vì đã trách nhầm trạng, song ai nấy đều hy vọng một cuộc đời hiển hách. Uy tín trạng ngày càng cao hơn và đồn đi khắp nơi, đây đâu cũng rôm rả chuyện con ngựa đá ở bờ sông Vĩnh Lại. Trai làng thì lên mặt, con gái các nơi đổ xô đến tìm nơi để làm dâu, mong sau ngày trở thành bà đô đốc hay bà quận công. 


Giữa lúc ấy, trong Nam lại xảy ra cuộc chiến tranh giữa Tây Sơn và chúa Nguyễn. Tây Sơn thắng trận, rồi thừa thắng đem binh ra diệt luôn chúa Trịnh ở Bắc, trả quyền cho nhà Lê. Vua nhà Lê từ đó thoát khỏi nạn chúa Trịnh chuyên quyền, nhưng sau khi vua Hiển Tông mất, vua Chiêu Thống lên ngôi, dòng dõi của Trịnh lại trở về. Vua Lê phải triệu Hữu Chỉnh ở Nghệ An ra giúp. Chỉnh đem binh ra đánh đuổi và dẹp tan đám con cháu của chúa Trịnh còn sót lại. Nhưng Chỉnh lại chuyên quyền, ra mặt chống với Tây Sơn, Nguyễn Huệ thấy vậy, sai Nhậm đánh Chỉnh. Chỉnh đem vua Lê chạy trốn. Nửa đường Chỉnh bị Nhậm bắt, vua thì thoát nhưng phải giả dạng thường dân mang theo ân tín mà chạy. Tứớng Tây Sơn đuổi theo, nhà vua phải qua sông Vĩnh Lại và ở lại làng này. 


Việc vua đến lưu trú, lại thêm chuyện "ngựa đá qua sông" dân làng cho rằng đây là ý trời để làng Vĩnh Lại được oai danh hiển hách, mới rước vua về đình rồi thảo hịch chiêu mộ quân sĩ để chống Tây Sơn, sẵn có ấn tín của vua, hết người này đến người khác bức vua phong tước. Thế cùng, lực kiệt, nhà vua đành nghe theo, vậy là chỉ trong mấy ngày dân Vĩnh Lại đều thành quan này, quan nọ cả. 


Phong tước xong, nhà vua từ giã để chạy sang làng khác. Hay tin dân làng Vĩnh Lại phò Lê chống Tây Sơn, Vũ Văn Nhậm đem quân vây đánh, dân làng chống cự không lại, lớp bị giết, lớp bị bắt thật thảm thương. 


Hoành sơn nhất đái 

Sau khi nhà Lê bị Mạc Đăng Dung chiếm ngôi, con của một vị tướng triều Lê tên là Nguyễn Hoàng Dụ trốn sang Lào, được vua Lào cho nương náu ở xứ Cẩm Châu, trấn Nam Phủ, tỉnh Thanh Hoá. 

Năm Quý Tỵ (1532) Nguyễn Kim lập con út vua Chiêu Tông lên làm vua, gọi là Trang Tông. 


Để mưu đồ đại sự, Nguyễn Kim thu nạp một kiện tướng ở tỉnh Thanh Hoá tên là Trịnh Kiểm, sau là rể của Nguyễn Kim. 


Năm Canh Tý (1540), Nguyễn Kim đem quân đánh chiếm Nghệ An và thu phục luôn cả Thanh Hoá. Nhưng bỗng dưng Nguyễn Kim chết vì ngộ độc (1545), mọi bình quyền về tay Trịnh Kiểm. 


Việt Nam lúc bấy giờ bị chia đôi: từ Sơn Nam trở ra thuộc nhà Mạc, gọi là Bắc Triều. Từ Thanh Hoá trở vào là khu vực của nhà Lê hay gọi là Nam Triều. 


Nguyễn Kim mất, để lại hai người con trai là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng, cả hai tuy còn ít tuổi nhưng đã bộc lộ tài năng xuất sắc hơn người. Trịnh Kiểm không khỏi lo sợ cả hai sau này có thể tranh giành địa vị với mình, nên đã ngấm ngầm ngăn trở, và vì thế Nguyễn Uông chỉ mắc một lỗi nhỏ, Trịnh Kiểm cũng buộc Nguyễn Uông phải chịu phép gia hình. Nguyễn Hoàng thấy anh bị hại, sợ đến lượt mình, liền cử người kín đáo lên hỏi Trạng Trình. Trạng không trả lời cụ thể, chỉ đứng ngắm đàn kiến bò trên hòn non bộ trước sân nhà và thốt lên một câu: 


“Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” 


Tạm dịch nghĩa: 


“Hoành sơn một dãy, dung thân ngàn đời” 


Từ câu nói đó, Nguyễn Hoàng nghiệm ra rằng trạng Trình đã bày cho kế đi vào phương Nam lập nghiệp. Nguyễn Hoàng vội vàng đến nói riêng với bà chị, lựa lời cho ông vào trấn đất Thuận Hoá, phía Nam dãy Hoành Sơn. Nhờ thế mà lập nên cơ nghiệp của họ Nguyễn ở Đàng Trong, truyền nối lâu dài. 


Khi cơ đồ của nhà Nguyễn trở nên vững vàng, Nguyễn Hoàng có cho người mang lễ vật đến tạ Trạng Trình, nhưng Trạng đã cương quyết khước từ. 


Lê tồn, Trịnh tại - Lê bại, Trịnh vong 

Nhà Lê Trung Hưng dùng căn cứ ở Thanh Hoá tiến mạnh ra kinh đô. Tuy nhiên các phe phái Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn vẫn hằm hè, đấu trí, đấu sức nhau, mưu sự thịnh vượng cho mình. Nhiều danh sĩ lại phân vân, cân nhắc chẳng biết nên theo Lê, hay ở lại với Mạc. Trong số ấy có Phùng Khắc Khoan, mãi không chọn được hướng đi để tồn tại và phát huy hết khả năng của mình, Phùng Khắc Khoan đã tìm đến Am Bạch Vân để vấn kế Trạng Trình. 

Chuyện kể rằng, khi nghe Phùng Khắc Khoan hỏi han đến sự thể, Trạng Trình không hề bảo cho Phùng Khắc Khoan là nên định hướng thế nào, dù họ đã có cả buổi ngồi đàm đạo, ăn cơm, uống rượu. 


Phùng Khắc Khoan không khỏi băn khoăn, trằn trọc mãi đến gần sáng mới chợp mắt được, vừa lúc ấy Trạng Trình đến đập cửa và nói vọng vào: 


- Gà đã gáy rồi, sao không dậy, còn ngủ gì nữa? 


Ông Khoan giật mình thức giấc, ông ngầm hiểu ý của Trạng Trình là đã đến lúc phải vào Thanh Hoá với nhà Lê. Phùng Khắc Khoan vội vàng bật dậy, sắp đặt hành lý rồi đến chào từ biệt Trạng Trình. 


Trạng vẫn không nói gì, chờ tới lúc Phùng Khắc Khoan quay gót, Trạng liền cuốn một chiếu ngắn ném theo. Nghe tiếng chiếu rơi phịch cạnh chân mình, Phùng Khắc Khoan càng thêm hiểu ý của Trạng: “Phải hành động nhanh như cuốn chiếu, chứ đừng chần chờ gì nữa”. 


Quả nhiên vào Thanh Hoá, Phùng Khắc Khoan nhanh chóng được trọng dụng và được Thái sư Trịnh Kiểm tin tưởng, việc gì quan trọng cũng hỏi ý kiến. 


Khi Lê Trung Tông mất, Trịnh muốn nhân dịp này để nhà Trịnh thay hẳn nhà Lê, vì thực chất nhà vua chỉ là hư vị, mọi công lao trung hưng và quyền bính đều ở trong tay họ Trịnh cả. Trịnh Kiểm hỏi ý, Phùng Khắc Khoan lúng túng không biết trả lời thế nào, liền bí mật phái sứ giả ra Hải Dương hỏi ý kiến Trạng Trình. 


Người được cử đi về kể lại: 


- Quan Trạng không bảo ban gì cả. Ngài cũng không có thư hồi đáp. 


Phùng Khắc Khoan gặng tới: 


- Thế ông được quan Trạng tiếp đãi ra sao? Và những câu quan Trạng nói ông còn nhớ kỹ không? 


Người được cử đi lắc đầu: 


- Dạ, ngài Trạng tiếp đãi rất chu đáo. Nhưng ngoài những câu giao tế bình thường, ngài chẳng nói gì hết. Chỉ trong lúc nhấp chén trà với tôi, quan Trạng có bảo người nhà một câu không ăn nhập gì vào câu chuyện cả! 


- Là câu gì thế? Phùng Khắc Khoan thắc mắc. 


Người đàn ông đáp sau một thoáng ngẫm nghĩ: 


- Quan ngài bảo: “Năm nay thóc giống không tốt, chúng bay nên tìm thóc cũ mà gieo mạ”. 


Phùng Khắc Khoan mừng rỡ bảo: 


- Đó chính là lời Trạng nói với chúng ta đấy. Đâu, ông cố nhớ lại ngài Trạng còn nói gì thêm không? 


- Dạ nếu thế thì có chuyện này. Vừa cạn tuần trà xong, ngài Trạng đứng lên, xin ra chùa thắp hương. Tôi giữ lễ, xin phép đi theo, đến cửa chùa, nhà sư ra đón. Trạng bảo nhà sư: “Giữ chùa, thờ Phật thì được ăn oản”. 


Phùng Khắc Khoan gật đầu, rồi vội vàng đội khăn, mặc áo vào gặp Trịnh Kiểm, thuật lại từng lời nói, từng cử chỉ của Trạng Trình. Kiểm hiểu ngay ý Trạng Trình dặn: Phải tôn Lê thì mới hưởng phúc lâu dài. Và sau đó, Kiểm cho tìm người cháu của ông Lê Trừ, là anh ruột vua Lê Thái Tổ, tên là Lê Duy Bang ở làng Bố Vệ, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá đem về phò lên ngôi, tức là Lê Anh Tông. 


Về sau, con cháu chúa Trịnh cũng đã nhiều lần muốn chiếm ngôi nhà Lê, nhưng cụ Trạng Trình đều khuyên khéo:


"Lê tồn, Trịnh tại; Lê bại, Trịnh vong" 


Tuy nhà Lê suy nhược, nhưng Lê còn thì Trịnh mới đứng vững được. 


Lời sấm của Trạng Trình không sai, khi vua Lê Chiêu Thống để mất ngai vàng thì dòng Trịnh cũng chẳng còn ai xưng chúa nữa. 


Giỏi ứng xử thoát cửa tử 


Một ngày kia, Trạng Trình được Vua triệu vào để giao cho chức Hình bộ tả thị lang. Thì ra Trạng đã được Vua tin dùng trong việc thi hành đường lối khoan hậu trong hình ngục. Vua tỏ ra hết sức phẫn nộ đối với lề thói hà khắc của giới hình quan từ thời Uy Mục đến giờ. 


Sự tín nhiệm của Vua đã đem lại cho Trạng Trình những nỗi vui ít buồn nhiều, bởi tất cả dường đã trở thành cái nếp khó di dời hoặc lay chuyển. Phân xử, bắt bớ, tra khảo để hạch sách tiền của, chẳng phép nước luật Vua gì cả. Điều đáng nói là chính bọn hữu ty và cả viên Thượng thư bộ hình luôn tỏ ra nghi ngại hoặc không tán thành, hoặc né tránh. Họ quan tâm đến cái ghế của họ hơn là quyền lợi của người dân, vô hình trung Trạng đã trở thành người đối đầu với họ. 


Chẳng bao lâu, Trạng lại được thăng chức Lại bộ tả thị lang, kiêm Đông các đại học sĩ, được tham gia giảng sách ở toà Kinh Diên cùng dạy học cho Thái tử. 


Thái tử Mạc Phúc Hải tuy còn trẻ tuổi nhưng rất thông minh và biết nghe lẽ phải, nhưng bản chất có phần mềm yếu, thiếu quyết đoán, ưa phỉnh nịnh. Lợi dụng điều ấy, bọn quan lại sâu dân mọt nước đã đưa Thái tử vào quỹ đạo của chúng và họ xem Trạng như là chướng ngại vật cần phải dọn sạch, việc đầu tiên là chúng tìm cách ly gián, gièm pha Thái tử và thầy mình. 


Đúng dịp, hôm ấy Trạng phụ trách buổi giảng sách, đề giảng chỉ là một câu trong sách Luận ngữ: 


Vị quân nan, vị thần bất dị 

(Làm Vua khó, làm tôi không dễ) 

Bài giảng liên quan đến đường lối làm Vua của Thái tử, vì vậy đã khêu gợi sự chú ý của bọn nịnh thần, chúng chuẩn bị cả một kế hoạch để Trạng tự chuốc tai vạ cho mình. Trạng đã đoán trước nên vẫn đặt cho mình ở một tư thế sẵn sàng, điềm tĩnh và tự tin. 


Quả nhiên, theo kế hoạch của chúng, Thái tử khơi mào: 


- Thế nào là "làm tôi không dễ"? 


Trạng Trình từ tốn: 


- Tâu điện hạ, nếu chỉ biết nhắm mắt phục tùng để hưởng lợi về mình, dùng mưu mô xiểm nịnh để đưa Vua vào con đường lỗi đạo và muôn dân phải gánh phần tai họa thì không khó. Còn như nếu hết lòng vì nước mà hiến mưu cao, chước lạ, đem lời trung chính mà can ngăn Vua thì không những nghĩa vụ của mình sẽ được làm tròn mà còn phúc lây đến trăm họ. Được như thế dễ có mấy người. Làm tôi như vậy thật không dễ. 


Những cặp mắt hằn thù đều hướng cả vào Trạng. Thái tử lại đặt tiếp vấn đề: 


- Thế còn "làm Vua khó"? 


Trạng chậm rãi: 


- Tâu điện hạ, thật đúng như thế. 


Thái tử ra chiều khó chịu: 


- Hoàng tổ ta, hoàng khảo ta đã dầy công xây dựng, biến nguy thành an, đổi loạn làm trị, để lại cho ta một cơ đồ vững chãi như thế này, há phải làm Vua cũng khó ư? 


Một nỗi căm phẫn trào lên trong lòng Trạng. Đây đúng là luận điệu của bọn nịnh thần vừa mới mớm lời cho Thái tử. Song Trạng đã kịp thời trấn tĩnh, bởi vì, lúc này chỉ cần một cử chỉ, một lời nói vụng về, một hành động thiếu cân nhắc thì ông sẽ rơi vào bẫy của bọn tiểu nhân nham hiểm ngay. Nghĩ thế nên Trạng nói thật ôn tồn. 


- Tâu điện hạ, đúng như lời điện hạ phán. Ngày nay ân trạch của triều đình đã thấm nhuần đến mọi hang cùng xóm vắng, khiến nơi nơi yên ấm. Hiện tại chính là lúc ngồi hưởng phúc. Tuy nhiên kẻ ngu thần này vẫn thường nghĩ đến như Nghiêu, Thuấn xưa mà vẫn nơm nớp lo sợ trong nước còn một người dân đói khổ, bị oan khuất. 


- Nhà ngươi có vì ta mà hiến kế không? 


- Tâu điện hạ, tiếng nhân đức của điện hạ ai ai trên đất nước này mà không biết, kẻ hèn này đâu dám tâu xằng. Nhân buổi giảng sách hôm nay, thần chỉ dám mạo muội dâng lên điện hạ một câu: "Như bão xích tử, lâm thành cầu chi, tuy bất trúng, bất viễn hỹ. Vị hữu học dưỡng tử nhi hậu giá giả dã". Hạ thần chỉ mong điện hạ yêu dân như con, như thế thì lẽ nào không hiểu được lòng dân mà đề ra liệu pháp trị nước, cần gì đến kẻ này. 


Vậy là nhờ tài ứng xử, biện bác, Trạng đã thoát khỏi trong đường tơ kẽ tóc, lại còn khiến Thái tử đã chịu nghĩ lại nhiều sau buổi giảng này. Chẳng những thế, Trạng và một số giảng quan khác còn được Thái tử lưu lại ban trà.




LƯỢNG THIÊN XÍCH. St

Theo: mactrieu.vn
Share:

QUẢN LỘ - MỘT THIÊN TÀI VỀ BÓI DỊCH


*Bói mà biết được căn bệnh do ma quỷ làm ra.

*Bói mà biết được vật đậy trong hộp kín ,trăm lần không sai.

*Thiên cơ có thật và không được tiết lộ.

*Cuộc đối thoại gay cấn giữa Quản Lộ và Tào Tháo.

*Cuộc trả thù ghê gớm giữa Quản Lộ và con cháu Tư Mã ý.

Tả Từ là một vị tiên .Ông là người của gió mây nên không ai biết được tung tích .Riêng Quản Lộ thì nguồn gốc như sau:

Ông tự là Công Minh, vốn người Bình Nguyên, dung mạo xấu xí, thích uống rượu, tính lông bông. Cha làm chức Trưởng đất tức Khâu quận Lạng gia. Quản Lộ lúc nhỏ đã thích thiên văn. Có đêm nằm ngửa mải mê nhìn sao trên trời không hề chợp mắt, ai can cũng không được. Ban ngày, những khi chơi đùa với bạn. Lộ cũng thường vạch đất vẽ bầu trời chia chỗ này mặt trăng, chỗ kia mặt trời cùng vị trí các chòm sao. Lớn lên rất tinh thông lý số, giỏi kinh Dịch. Có thể nói: trên đời có một không hai.

Có lần quan Thái thú Lạng gia là Đan tử Xuân nghe tiếng bèn mời Lộ đến nhà chơi.
Hôm ấy, nhà có hơn trăm người khách đang chuyện trò đều là những tay ăn nói. Lộ xin uống rượu để có thêm hào khí rồi mới dám đối đáp. Tử Xuân bằng lòng ngay rồi đem những triết lý trong kinh Dịch ra hỏi. Quản Lộ đối đáp trơn tru, lý luận sâu sắc. Tử Xuân cố gắng hết sức mà cũng không thể bắt bẻ được chút nào. Cả hai say sưa tranh biện, quên cả ăn uống. Mọi người trong đình thán phục vô cùng. Quản Lộ nổi tiếng thần đồng từ đó.

Bói dịch biết chuyện ma quỷ.

Tài bói dịch của Quản Lộ được chứng nghiệm rất nhiều lần.
Người ta kể lại rằng: Nhà một nông dân tên là Quách Ân, có ba anh em đều bị thọt chân, bèn mới Quản Lộ về bói. quản Lộ đến nơi, gieo quẻ xong rồi nói:

- Nhà anh bị một nữ quỷ phá hại.
Trước đây, nếu không phải bác gái thì cũng thím anh gặp năm mất mùa, tham một thúng gạo, nỡ xô người ta xuống giếng, lấy đá lấp lại, người đó chết đi, oan hồn lên trời kiện, nên anh em nhà anh phải chịu ác báo. Cái ác báo này dù anh em nhà anh có cúng tế tới đâu cũng không ăn thua gì.

Ba anh em nhà nay nghe xong toát mồ hôi và công nhận:
trước đây nghe nói người thím có giết một người đội một thúng gạo. Quan huyện lệnh Tín đô nghe chuyện, bèn đem việc vợ bị đau đầu, con bị bệnh tim chữa lâu mà không khỏi, bệnh càng ngày càng nặng ra nhờ Quản Lộ bói. Bói xong, Lộ cho biết:

- Ở phía Tây nhà ông,
dưới gốc cây có hai cái xác người. Một thây cầm xà mâu, một thây cầm cung đầu quay vào trong vách. Thây cầm cung nhắm vào ngực nên con ông bị đau tim. Thây cầm xà mâu nhắm vào đầu nên vợ ông đau đầu.

Quan huyện lệnh bái tạ ra về và sai gia nhân đào ở góc nhà phía Tây lên thì quả nhiên có thấy hai chiếc quan tài.
Mở nắp ra thấy có hai bộ xương, một cầm cung, một cầm xà mâu nhưng đã bị mục nát cả. Quan cho đem hai cái thây ra ngoài thành mười dặm mà an táng. Từ đó, bệnh của vợ con ông dần dần bớt rồi dứt hẳn.

Đoán đúng vật đậy kín:

Không riêng những chuyện đã xảy ra,
mà chuyện trước mắt Quản lộ đoán cũng không hề sai. Có lần Huyện lệnh đất Quán đào là Gia cát Nguyên đổi đi nhậm chức Thái thú quận Tân hương. Quản Lộ đến tiễn hành. Mọi người bàn tán Lộ có tài đoán đúng vật đậy trong hộp kín. Nguyên không tin bèn thử tài. Ông vào nhà lấy ba vật khác nhau, bỏ vào trong hộp dán kín rồi đưa cho Lộ xem. Lộ gieo quẻ xong thì lần lượt viết lên mỗi hộp bốn câu thơ.

Trên hộp thứ nhất có bài thơ như sau:

Bầu khí biến mất 

Nương trên mái nhà 

Hình chia trống mái

Lông cánh phô ra.

Quả nhiên là hộp đó đựng trứng chim én.

Trên hộp thứ hai:

Nhà treo lửng lơ 

Cửa sổ vô số

Chứa những tinh hoa

Mùa thu thì nở.

Mọi người mở ra thì thấy đó là một tổ ong.

Và trên chiếc hộp thứ ba Lộ viết:

Mon men chân dài 

Nhà tơ chắn lối 

Lần lượt tìm mồi 

Lợi về đêm tối.

Trong hộp quả là đựng một con nhện.

Mọi người xem xong ai nấy đều rất kinh ngạc.
Có một bà lão bị mất trâu, không biết ai bắt, mếu máo đến nhờ Quản Lộ tìm giúp. Quản Lộ gieo quẻ rồi nói:

Ngoài bờ khi bắt 

Bảy đứa mổ ra 

Đến tìm lập tức 

Còn thấy lông da.

Bà lão nghe nói vội vàng đi tìm,
quả nhiên thấy những tên trộm đã làm thịt con trâu xong, đang nấu nước bên bờ khe. Da thịt còn treo ngoài trại, bèn đi trình Thái thú Lưu Bân. Bân cho lính đến bắt được bảy tên trộm. Rồi hỏi đầu đuôi câu chuyện, bà lão thực tình kể. Bân không tin cho người đi mời Quản Lộ đến, rồi lấy cái túi ấn và lấy cái lông gà rừng ra bỏ vào hộp đem cho Lộ đoán.

Lộ gieo quẻ rồi đoán hộp thứ nhất:

Trong vuông ngoài tròn 

Năm sắc chỉ luồn 

Đựng của giữ tín

Hiện ra chữ son.

Đây hẳn là cái túi đựng ấn tín.

Và hộp thứ hai:

Đậu trên cây núi

Lông cánh vàng ối 

Mình gấm đốm đen 

Gáy sáng không lỗi.

Đây hẳn là lông gà rừng.

Lưu Bân nghe xong kinh hãi không dám coi thường nữa,
vội mời vào trong đãi làm thượng khách.

Tiết lộ thiên cơ.

Người ta còn kể:
Một hôm đẹp trời, Lộ ra ngoài đồng dạo chơi, thấy thanh niên đang cày ruộng. Lộ dừng lại ngắm một chút rồi hỏi:

- Anh kia!
Có thể nào cho tôi biết tên được không và anh bao nhiêu tuổi rồi?

Chàng kia đáp:

- Tôi tên là Triệu Nhan,
mười chín tuổi, chẳng hay tiên sinh là ai?

Quản Lộ nói:

- Ta đây là Quản Lộ.
Ta thấy trên mặt anh hiện ra đường tử khí. Vì vậy, chỉ còn ba ngày nữa là bỏ mạng. Tiếc thay, anh dáng người đẹp đẽ thế mà không thọ.

Triệu Nhan nghe nói lòng hồi hộp vô cùng,
vội chạy về nhà báo tin cho cha mẹ hay. Người cha lập tức đi tìm Quản Lộ, rồi vừa khóc vừa nói:

- Xin tiên sinh rủ lòng thương xót cứu mạng cho con tôi một phen.

Quản Lộ nói:

- Số trời đã định,
dù tôi có phép tiên cũng không thể nào cứu được.

Ông lão một mực quỳ lạy van nài:

- Suốt đời tôi chỉ có một đứa con này,
xin ngài thương hại mà cứu lấy nó.

Triệu Nhan lúc bấy giờ cũng phục xuống trước mặt Quản Lộ và khóc lóc.
Quản Lộ nhìn thấy cảnh này cũng không nở bỏ đi, bèn nói:

- Thôi anh đừng khóc nữa.
Hãy về kiếm lấy ít rượu ngon và thịt nai thơm. Ngày mai mang lên núi Nam sơn, tìm đến một gốc cây cổ thụ, sẽ thấy một phiến đá có hai ông già đang ngồi đánh cờ. Một người quay mặt về hướng Nam, mặc áo trắng, mặt mày hung tợn. Một người quay mặt về hướng Bắc, mặc áo hồng, gương mắt hiền lành. Thừa lúc hai người mãi lo đánh cờ, anh cứ bày rượu thịt ra mà dâng lên. Đợi khi họ ăn uống xong thì phục xuống mà khóc lóc xin thêm tuổi thọ. Như thế may ra còn có cơ may sống sót. Nhưng cần nhất là không được tiết lộ tên tôi đấy nhé!




Ông lão mừng rỡ vội mời Quản Lộ về nhà. Hôm sau Triệu Nhan y lời Quản Lộ chỉ bảo, đem rượu thịt lên núi Nam Sơn và quả nhiên thấy có hai người đang ngồi đánh cờ dưới gốc cây, dáng dấp phi phàm. Chàng rón rén đến gần, nhưng hai người chẳng ai để ý đến. Triệu Nhan bày rượu thịt và cứ thế mà dâng lên. Hai người vì mãi mê đánh cờ nên cứ thế mà nâng chén, cứ thế cho đến lúc không còn gì để dâng nữa. Lúc ấy, Triệu Nhan mới quỳ xuống khóc lóc và lạy xin thêm tuổi thọ. Hai người lúc bấy giờ mới giật mình quay lại nhìn Triệu Nhan chằm chằm, rồi người mặc áo hồng mới nói với người mặc áo trắng:

- Đây hẳn là Quản Lộ đã xúi nó đến đây,
nhưng ta đã dùng lễ vật của nó, làm thế nào mà từ chối được.

Ngưới mặc áo trắng lật sổ ra xem một lúc rồi nói:

- Nhà người năm nay mười chín tuổi đáng lẽ phải chết.
Nay ta cho thêm chữ Cửu lên trên nên có thể thọ đến chín mươi chín. Nhưng phải về nói với Quản Lộ là từ nay không được tiết lộ thiên cơ nữa, nếu không trời sẽ khiển trách đó.

Dứt lời,
ông lấy bút ra sửa lại vài nét trong sổ. Rồi một cơn gió thổi qua, hai người biến thành hai con hạc bay lên trời mất dạng. Triệu Nhan hết sức mừng rỡ, vội về nhà thuật lại mọi chuyện cho cha nghe, đồng lời nhắn lại những lời của ông lão, rồi hỏi Quản Lộ về lai lịch hai ông lão ấy. Quản Lộ cho biết đó là Nam Tào và Bắc Đẩu hai vị tiên chuyên lo việc sinh tử của nhân loại. Cha con Triệu Nhan vui mừng khôn xiết, lạy tạ Quản Lộ đã có công cứu mạng. Còn Quản Lộ từ đó không dám tiết lộ thiên cơ nữa vì sợ phạm tội.

Quản Lộ và Tào Tháo.

Nói về Tào Tháo,
sau khi gục xuống một lát thì trời quang mây tạnh, những thây người đều biến mất. Quân hầu vội dìu Tháo vào cung. Đến lúc tỉnh lại, Tháo trong lòng lo lắng, không hiểu có chuyện sẽ xảy ra nên phát bệnh nặng, thuốc thang thế nào cũng không bớt. Nhân dịp có quan Thái sử Thừa là Hứa Chi từ Hứa đô đến Nghiệp quận thăm, Tháo cho vời vào hỏi chuyện xem có người nào giỏi về Bói Dịch không. Hứa Chi tiến cử Quản Lộ và đem những chuyện thuật cho Tháo nghe. Tháo mừng rở vô cùng, vội cho người đến Bình nguyên triệu Quản Lộ về. Quản Lộ đến nơi được Tháo nhờ gieo quẻ để đoán bệnh. Một lát sau Lộ nói:

- Ngài mắc phải ảo thuật của Tả Từ rồi,
nhưng không có gì đáng ngại đâu.

Nghe xong,
Tháo thở một hơi dài khoan khoái như vừa trút xong một gánh nặng. Đoạn Tháo nhờ Lộ bói một quẻ để xem việc thiên hạ. Quản Lộ lại gieo quẻ rồi đoán:

Ba tám ngang dọc 

Phía nam định quân 

Lợn vàng gặp cọp

Bị gãy một chân.

Khi Tháo hỏi về hậu vận con cháu thì Lộ cho biết:

Trong cung sư tử 

Được yên thần vị 

Đạo vương canh tân 

Con cháu đại quý.

Thấy còn mập mờ,
Tháo muốn hỏi thêm cho kỹ thì Lộ nói:

- Số trời mông mông không thể đoán được.
Đợi sau này sẽ ứng nghiệm.

Tháo không dám hỏi nữa và ngỏ ý muốn phong quan cho Quản Lộ.
Lộ từ chối và giải thích:

- Tôi tướng cùng,
vì xương trán không phải “chủ cốt”, con ngươi không phải “thủ tinh”, sống mũi không có “lương trụ”, chân không phải kiêu “thiên căn”, lưng không “tam tháp”, bụng thiếu “tam nhâm”, nên chỉ có thể trừ ma quỷ, chứ không thể trị được thiên hạ.

Tháo lại hỏi:

- Vậy ngài thử đoán xem tướng của tôi thế nào?

Quản Lộ khôn khéo trả lời:

- Ngôi nhân thần đã đến cực phẩm còn phải coi tướng làm gì nữa?

Tháo còn cố hỏi,
nhưng Lộ chỉ cười không đáp. Thấy vậy, Tháo bảo Lộ xem tướng các quan văn võ đang ngồi xem thế nào. Lộ nhìn qua một lượt rồi nói:

- Đều là bày tôi đời trị.

Tháo lại hỏi thăm tình hình hai xứ Đông Ngô
- Tây Thục. Lộ cho biết:

- Đông ngô sắp mất một viên đại tướng,
còn Tây Thục thì sắp đem quân xâm phạm biên cương.

Tháo còn đang nghi hoặc thì đã có quân vào báo:

- Đô đốc Đông ngô trấn thủ ở Lục Khẩu là Lỗ Túc đã từ trần.

Tháo giật mình vội cho quân thám thính Hán Trung.
Hai ngày sau thám tử về báo:

- Lưu Huyền Đức sai Trương Phi và Mã Siêu đóng quân ở Hạ Biện,
có ý muốn đánh chiếm quan ải.

Tháo nổi giận,
định xua quân vào Hán Trung tử chiến, bèn nhờ Lộ bói xem một quẻ xem cát hung thế nào. Lộ gieo quẻ rồi nói:

- Đại vương đừng vội động binh,
vì mùa xuân tới đây Hứa Đô thế nào cũng bị một trận hỏa tai dữ dội.

Tháo thấy mọi việc Quản Lộ nói đều đúng cả nên không dám xuất binh.
Về sau quả nhiên Hứa Đô bị một trận hỏa tai lớn do Kim Vy, Vi Hoảng và Cảnh Kỷ làm phản mưu diệt Tào hưng Hán nhân ngày lễ Nguyên tiêu. Dẹp loạn xong, Tháo đem vàng ngọc trọng thưởng cho Quản Lộ, nhưng ông từ chối và xin được về quê.

Cái chết và sự trả thù của Quản Lộ.

Mặc dù Lộ không làm quan,
nhưng mỗi khi gặp chuyện gì khó khăn, Tháo đều cho người đến hỏi để biết cát hung của sự việc. Khi nhà Tấn lên làm vua, những ai đã từng đột pháo xông tên hoặc bày mưu hiến kế cho Tháo đều bị bắt. Quản Lộ được coi là “cái túi khôn” của Tào Tháo nên cũng chịu chung số phận. Một buổi chiều, Lộ đang đi bỗng nhiên vấp chân một cái. Nhìn xuống đất thấy không có cái gì cả. Lộ “đánh tay” biết mạng mình sẽ bị tuyệt trong nay mai, nên tối hôm đó, ông đã thức suốt đêm, đem tất cả những cái sở học ra viết thành một “Tức cẩm nang” nhờ người trao lại bốn đời sau để báo thù.

Hôm sau,
quả nhiên quân lính đến bắt Quản Lộ ra pháp trường xử trảm. Sắp đến Quản Lộ bị hành hình thì một trận cuồng phong nổi lên, cuốn cái mũ của vua Tấn bay lên trên không trung. Lộ nói:

- Nếu cái mũ rơi xuống đất là điềm ta báo được thù.

Quái lạ thay,
cái mũ đảo lộn trên không một lúc rồi rơi xuống úp vào đầu con ngựa mà vua Tấn đang cỡi. Quản Lộ thấy thế thở dài cúi đầu xuống mà chịu chết. Người đời sau có làm thơ khen Quản Lộ rằng:

Bình Nguyên quân tử có kỳ tài 

Bắc đẩu Nam tào tính đến nơi 

Gieo quẻ lần tìm ra dấu quỷ

Bói kinh đoán trước cả cơ trời 

Số người thọ yểu rành xem tướng 

Bản mệnh hèn sang tự biết rồi 

Diệu thuật linh khoa kia khá tiếu 

Chẳng đem truyền lại được cho đời.

Bốn đời sau,
trong dòng họ của Quản Lộ lại có kỳ tài xuất hiện. Đó là Quản Bật. Bật có diện mạo giống Lộ như khuôn đúc: học rất giỏi, mắt rất tinh, có thể đếm được các vì sao trên trời. Và điều lạ lùng hơn nữa là Bật cũng giỏi về khoa lý số giống y như ông tổ bốn đời là Quản Lộ. Người ta không thể ngờ được rằng: Bật chính là Lộ tái sinh để quyết giết cho được một người con cháu của Tư mã Ý mà báo thù.

Theo đúng như cẩm nang mà Lộ truyền lại.
Bật đã vào cung đoán mộng cho vua Tấn rồi khéo léo xui ông vua này lên Định Quân Sơn đào mả Khổng Minh để tìm "Thanh Thư cẩm nang". Khổng Minh trước khi chết có làm một cái lăng giả ở trong chứa đầy các máy móc, cùng những ám khí hiểm độc, mục đích giết hại những kẻ tham lam dám xâm phạm mộ phần của mình: Nhưng chủ ý là nhắm vào các vua nhà Tấn.

Không hẹn mà nên.
Cả Không Minh lẫn Quản Lộ có cùng chung một mục đích giống nhau, và Quản Lộ với tài “thần cơ diệu toán” đã lấy việc của người làm việc của mình. Không ngờ, mọi việc sắp đặt của cả hai người đều thất bại. Một nhà sư, em ruột của Khổng Minh đã đến đục đẽo, bôi xóa tất cả dấu vết chung quanh lăng của Khổng Minh để không có ai tìm ra được. Đến khi ngôi lăng bị phát giác và không ngăn cản được ý muốn thám hiểm của nhà vua, có một vị sư già đã đi theo sát bên để hộ vệ. Cuối cùng, cũng chính nhà sư đã cho thuốc để cứu mạng khi vua hít phải khói độc từ trong cái hộp bằng đá tỏa ra... Còn Quản Bật trước đó đã viện cớ đau bụng xin lên địa huyệt để rời xa nơi nguy hiểm.

Vua Tấn về triều,
đau một trận nặng nhưng rồi được nhà sư cứu khỏi và cho biết đầu đuôi câu chuyện. Như thế, sự báo thù của Quản Lộ đã không thành công đúng như cái điềm báo trước hôm chịu tội ở pháp trường. Sau đó, vua Tấn cho người về quê tìm Quản Bật, nhưng Bật đã không còn ở đó nữa. Người ta không rõ cuộc đời về sau của ông như thế nào.

Lời bàn của người thuật.

Thời Tam quốc xảy ra cách đây cả ngàn năm.
Vào thời đó, nếu có những người như Tả Từ thì cũng phải có những người như Quản Lộ. Đã có người như Quản Lộ tất sẽ có hai ông tiên đánh cờ dưới gốc cây, để vai trò của nhà tiên tri được đầy đủ. Bói Dịch mà tài tình như Quản Lộ thì thật là hiếm có. Tài tình đến độ tiên trên trời cũng biết nữa thì thật là siêu đẳng, không còn ai hơn được.

Ta đã thấy học bói Dịch mà tới nơi tới chốn có thể giúp ta hiểu được mọi chuyện xảy ra chung quanh mình,
không sót tí gì từ việc lớn đến việc nhỏ. Nhưng muốn đạt đến mức đó, con người tưởng chừng như phải có được một sự cảm thông linh ứng hoàn toàn với ngoại vật, không còn bị những cái ham muốn nhỏ nhen tầm thường che khuất tâm trí nữa.

Cho hay những bậc đại nhân trong thiên hạ từ trước tới nay thường là những người biết "tri túc”.
Chính vì thế, ta thấy việc Quản Lộ từ chối bổng lộc của Tào Tháo là điều dĩ nhiên. Cho dù có ham danh lợi đi nữa mà biết rõ mình, rồi thấy được tâm địa của Tháo, Quản Lộ cũng không thể ra làm quan được. Đã coi thường Tháo, thì cái đám quan lại chầu chực chung quanh Tháo, Lộ còn coi ra vẻ gì!

Câu nói:
”Đều là bầy tôi đời trị” nếu không phải là câu trả lời cho xuôi tai, thì đó chính là một câu nói khinh thường hết sức. Đọc truyện ta thấy, không ai hỏi thăm lôi thôi bằng Tháo, đã biết mệnh trời không thể nào đổi được mà cứ cố hỏi thì có ích gì, để cho người thấy rõ cái óc vụ lợi và cái bụng gian hùng của mình mà thôi. Những câu trả lời úp mở của Lộ đã giúp Lộ không bị hại đến thân, lại giữ được thể diện mà Tháo không thể nào bắt bẻ chỗ nào được.

Chữ Sư tử trong câu:
“Trong cung sư tử” phải chăng ám chỉ Tư mã Sư người đã cướp ngôi của Tào Phi sau này? Khi chết, Tào Tháo đã làm giả một trăm ngôi mộ, để đời sau không ai biết đâu mà phạm đến hài cốt. Khổng minh xây lăng để giết hại con cháu Tư Mã Ý. Quản Lộ quyết chí báo thù truyền đến bốn đời mới thôi. Tất cả những điều ấy chứng tỏ là người Đông Phương, đặc biệt là người Trung hoa có một nội tâm vô cùng sâu sắc, nhờ hiểu biết tường tận khoa lý số hơn các dân tộc khác. Nhưng sâu sắc đôi khi quá đáng và trở thành thâm hiểm. Tuy vậy, tất cả mọi sự đều không qua được mệnh trời và tất cả những sự chống đối đều trở nên vô ích.

Riêng về chuyện tiết lộ thiên cơ của Quản Lộ ta thấy nó hao hao giống một vài truyện cổ của ta.
Nhân loại đã gặp nhau khi đồng hóa tiên và tục. Nam tào và Bắc đẩu dù ở thượng giới cũng ham chơi cờ, cũng đãng trí và cũng ham nhậu nhẹt như ai, người và tiên cũng gặp nhau quá dễ dàng. Tiếc thay, cái thời hoàng kim tốt đẹp đó không còn nữa. Chẳng trách mà trần gian này càng ngày càng xa cách cõi thiên đường.
Hoàng sinh

LƯỢNG THIÊN XÍCH.St
Share:

लोकप्रिय पोस्ट

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn

Recent Posts

Unordered List

  • Lorem ipsum dolor sit amet, consectetuer adipiscing elit.
  • Aliquam tincidunt mauris eu risus.
  • Vestibulum auctor dapibus neque.

Label Cloud

10 điều đại kỵ trong nhà ở và cách hóa giải (1) 7 sai lầm phong thủy cần chú ý (1) 83 VỤ (1) Ai vái lạy ai (1) an táng (1) ẢNH HƯỞNG (2) AQUA (1) Ất Sửu (2) Ất Tỵ (1) Bài thuốc dân gia (1) bán mở hàng (1) BÁT TRẠCH CHUYÊN SÂU (2) bệnh gút (1) Bệnh gút. Phương thuốc chữa trị bệnh (1) bệnh liệt dương. Đậu đen (1) BẾP (2) Bếp ăn gần phòng vệ sinh: Kiêng kị và cách hóa giải (1) Bính Dần (2) Bính Ngọ (2) Bính Thìn (2) Bính Tuất (2) Bính Tý (2) Bosch (1) bổ thận tráng dương. đậu đen (1) Bố trí bàn trà phòng khách theo phong thủy (1) Bùi Long Thành (2) Cá trê hầm đậu đen. suy giảm tình dục (1) CÁC VỊ TRÍ ĐẶT BẾP (2) CÁCH BỐ TRÍ VĂN PHÒNG GIÚP LỘC VÀO NHƯ NƯỚC (1) Cách hóa giải bếp dựa vào cửa sổ (1) Cách hóa giải hướng xấu cho nhà tắm (1) Cách hóa giải khi ngõ đâm thẳng vào nhà (1) Cách tính Trùng Tang (1) Can chi (1) Canh Dần (2) Canh Ngọ (2) CẢNH QUAN BÊN NGOÀI (2) Canh Thân (2) Canh Thìn (2) Canh Tuất (2) Canh Tý (2) cáo tổ tiên (1) CĂN NHÀ (2) Cân Lượng (1) CẦU TỬ BÍ PHÁP (2) Cây dong riềng. trị bệnh mạch vành (2) Chàng trai (1) chiếc kim (1) chọn ngày (1) chọn ngày giờ tốt căn bản (2) CHỌN NGÀY TỐT (1) CHỌN NGÀY TỐT CĂN BẢN CHO 83 VỤ (2) chữa bệnh (1) có phù dâu (1) Coi bói số (3) Coi bói số Tử vi (2) Coi bói số Tử vi trọn đời cho TUỔI DẦN: Giáp Dần (2) Coi bói số Tử vi trọn đời cho TUỔI HỢI: Ất Hợi (2) Coi bói số Tử vi trọn đời cho TUỔI MÃO: Ất Mão (2) Coi bói số Tử vi trọn đời cho TUỔI MÙI: Ất Mùi (2) Coi bói số Tử vi trọn đời cho TUỔI THÂN: Bính Thân (2) Coi bói số Tử vi trọn đời cho TUỔI THÌN: Giáp Thìn (2) Coi bói số Tử Vi trọn đời cho TUỔI TUẤT: Giáp Tuất (2) Coi bói số Tử vi trọn đời TUỔI DẬU: Ất Dậu (2) Coi số Tử vi trọn đời cho TUỔI TÝ. Tử vi (2) con người thật (2) con nuôi (1) Con so về (1) Công suất (1) CƠ SỞ KINH DOANH (2) Cung mệnh (1) CUNG VÀ SAO (2) CỬA CÁI (2) Cửa Sổ (2) Cửa thông (2) cưới hỏi (40) Daikin (2) Daikin âm trần (1) Daikin Inverter (1) Dạy con (1) Deawoo (1) DỌN DẸP SAU KHI CÓ ĐẠI TANG (2) DU LỊCH TÂM LINH (1) dùng trị liệt dương (1) DƯƠNG TRẠCH TAM YẾU (2) Đại kỵ cấu trúc 'cửa đối cửa' trong nhà (1) Đại sư HUỆ NGHIÊM (2) đàn bà tái giá (1) Đạo hiếu (1) đào hoa (1) đao ly (4) Đạo thầy trò (1) Đạt Ma (1) ĐẠT MA DỊCH CÂN KINH (1) ĐẠT MA DỊCH CÂN KINH "CẢI CÁCH" (1) đặt tên chính (1) Đề phòng và hóa giải sao Thái tuế trong năm 2013 (1) điều hòa (2) điều hòa LG Inverter (1) Đinh Dậu (2) Đinh Hợi (2) Đinh Mão (2) Đinh Mùi (2) Đinh Sửu (2) Đinh Tỵ (1) độc thân (2) động tác gì (1) Đuôi bổ theo bài (3) đưa dâu (1) Đừng xem thường "mũi tên độc" trong phong thủy (1) Đường thông (2) Electrolux (2) ễ thành phục (1) Funiki (1) Funiki Inverter (1) gà trống phong thủy (1) gan yếu (1) gia lễ (1) Gia phả (1) Giao thiệp (11) Giáp Tý (2) Giỗ Tết tế lễ (1) giờ (1) gói quà (1) gỡ bí (1) GƯƠNG SOI (2) hạp và kỵ của 12 trực (2) HITACHI (2) Hóa giải cửa hàng ở ngã ba (1) Hóa giải hướng nhà cho gia chủ sinh năm 1957 (1) Hóa giải hướng nhà phạm đao sát (1) Hóa giải phong thủy phòng ngủ tăng đường con cái (1) Hóa giải xung đột giữa các bé bằng vài mẹo nhỏ về phong thủy (1) Học khí công (2) HỘI NHẬP CON NGƯỜI THỰC (4) HUỆ NGHIÊM (2) HUYỀN KHÔNG BÁT TRẠCH (2) HUYỀN MÔN PHONG THỦY (9) HUYỆT NGUY HIỂM (1) INVERTER (7) kén giống (1) khai sinh (1) khao lão (1) Khắc phục hướng cổng chính không tốt như thế nào? (1) khâm liệm (1) KHÍ CÔNG DƯỠNG SINH (4) Khi ngôi nhà " trúng mũi tên độc" (1) KHUYẾT (2) KÍCH HOẠT CÁC CUNG BÁT QUÁI (2) KIẾN THỨC DỊCH LÝ (2) KIẾN THỨC PHONG THỦY (19) KIẾN THỨC TRẠCH NHẬT (9) Kiết Tú là Sao (2) KINH NGHIỆM CẢI TÁNG (4) Kỷ Dậu (2) Kỷ Hợi (2) Kỷ Mão (2) KỲ MÔN ĐỘN GIÁP (10) Kỷ Mùi (2) Kỷ Sửu (2) Kỷ Tỵ (1) làm lạnh (1) làng xã (1) lãnh cảm (1) Lấy vợ (1) le thai binh (1) Lễ lại mặt (1) Lễ tang (2) lễ trọng (1) Lễ vấn danh (1) Lễ xin dâu (1) LG INVERTER (1) Liệt dương (1) lỗi điều hòa (2) lời chào (1) ly hôn (1) ma chơi (1) MÃ lỗi (17) mã lỗi Daikin (1) Mã lỗi Điều hòa (1) mã lỗi máy giặt (3) mã lỗi Samsung Inverter (1) MÃ LỖI TỦ LẠNH (1) Mảnh đất xấu về phong thủy và cách hóa giải (1) Mảnh đất xấu về phong thủy và cách hóa giải (Bài 2) (1) Màu sắc (2) máy giặt (12) máy giặt LG (2) máy giặt Samsung (1) MÁY GIẶT SANYO (1) máy giặt Toshiba (1) MÁY GIẶT TOSHIBA NỘI ĐỊA (1) máy lạnh LG (1) máy lạnh LG inverter (1) MẬT TÔNG (7) MẬT TÔNG-ĐẠO PHÁP-HUYỀN MÔN (36) Mậu Dần (2) Mậu Ngọ (2) Mậu Thân (2) Mậu Thìn (2) Mậu Tuất (2) Mậu Tý (2) Mẹ chồng (1) mẹ cô dâu (1) Miếng trầu (1) Mitsubish (1) Mitsubishi (2) Mitsubishi Inverter (1) Mối lái (4) NATIONAL (2) ngã năm như thế nào? (1) NGÀY GIỜ TỐT (2) Ngày kiêng (1) Ngày Kim Thần Thất Sát (1) ngày tết (1) ngày tốt (2) ngày tốt xấu (2) ngày xấu (1) ngày xấu trong tháng (2) NGHIỆM CHỨNG DỊCH LÝ (9) NGHIỆM CHỨNG PHONG THỦY (37) NGHIÊN CỨU PHONG THUỶ (10) NGHIÊN CỨU PHONG THUỶ ÂM TRẠCH (30) NGỌC HẠP THÔNG THƯ (1) Ngũ Hành (2) Nhà ở gần đường trên cao và cách hóa giải (1) Nhà phạm hướng Thái Tuế: Lý giải và hóa giải (1) Nhà phạm Tuyệt mệnh hóa giải thế nào? (1) Nhà vệ sinh (2) Nhâm Dần (2) Nhâm Ngọ (2) Nhâm Thân (2) Nhâm Thìn (2) Nhâm Tuất (2) Nhâm Tý (2) Nhập gia (1) nhuộm răng (1) Những biện pháp hóa giải các hung tinh của năm 2013 (1) Những cấm kỵ phong thủy với từng không gian sống (1) Những điều cần lưu ý trong phong thủy chung cư (1) Những điều đại kỵ trong phong thủy nhà ở và văn phòng năm 2013 (1) Panasonic (2) PANASONIC INVERTER. Mã lỗi Điều hòa PANASONIC (1) PHÁC HỌA CHÂN DUNG (4) PHẦN LỒI (2) PHẬT GIÁO (4) PHÒNG KHÁCH (2) Phòng ngủ (2) Phòng tắm (2) Phong Thủy (6) PHONG THỦY ÂM TRẠCH (30) Phong thủy cao cấp (8) PHONG THỦY CHO VIỆC ĐÀM PHÁN (2) PHONG THỦY CỔ THƯ (16) Phong thủy cơ bản (22) PHONG THUỶ DÀNH CHO DOANH NGHIỆP (2) Phong thủy hóa giải sao Tam Sát và Tuế Phá năm 2013 (1) PHONG THUỶ HỌC (19) PHONG THỦY HƯƠNG HOA LÀM CON CÁI VÂNG LỜI CHA MẸ (2) PHONG THỦY LẠC VIỆT (37) Phong thủy nâng cao (7) PHONG TỤC - TÍN NGƯỠNG (1) phong tục việt nam (45) phu thê (1) PHỨC TRẠCH (2) Phương pháp chọn ngày giờ tốt căn bản (2) Quý Dậu (2) Quý Hợi Nam Mạng – Ất Hợi (2) Quý Mão (2) Quý Mùi (2) Quý Sửu (2) Quý Tỵm (1) rau mồng tơi (1) Ruộng hương hỏa (1) SAMSUNG (1) Samsung Inverter (1) SANYO (1) Sắp đặt nội thất để hóa giải hướng nhà xấu (1) sắp xếp Sao (2) SHARP (1) SINH TÀI VƯỢNG VỊ VÀ VIỆC ĐẶT THẦN TÀI (2) SONG SƠN NGŨ HÀNH (2) SƠN CHỦ (2) Tam nương sát (1) Tăng sinh lực. đuôi lợn (1) Tân Dậu (2) Tân Hợi (2) Tân Mão (2) Tân Mùi (2) Tân Sửu (2) Tân Tỵ (1) thách cưới (1) Thảm trải (2) thăm bệnh (1) thận hư (1) Thập Ác (1) theo ngày tháng năm (1) thien viet (1) THIÊN Y TRẠCH (2) Thờ Cúng (4) thờ vọng (1) thủ tục (1) THƯƠNG LƯỢNG (2) Tía tô. Tía tô chữa bệnh gút (1) Tiền nạp (1) Tín Tổ Tiên (4) Tín Ngưỡng (4) tóc thề (1) TOSHIBA (3) tơ hồng (1) trai tơ (1) trấn đài hoa (1) Trần nhà (2) trị gút dứt điểm (1) trong cùng họ (1) trong họ (1) truyền thống (1) tủ lạnh (1) tu vi (8) tục kiêng (1) tui vi (2) tuổi dân (2) tuổi hợi (2) tuổi mão (2) TUỔI SỬU (2) tuổi thìn (2) tử huyệt (1) TỨ LỘ HOÀNG TUYỀN (2) Tử vi (1) TỬ VI TRỌN ĐỜI (12) Tử vi trọn đời cho TUỔI NGỌ: Giáp Ngọ (2) Up rom (1) ử vi trọn đời cho TUỔI TỴ (1) việc an táng. (1) việc họ (1) Việc nhà nông (1) việc nhập học (1) việc xuất quân (1) vợ cả (1) vợ chồng (2) VỤ ĐỊNH LÀM (2) xem ngày (1) XEM NGÀY TỐT XẤU (7) Xiaomi (1) Xích Tùng Tử (1) xin quần áo cũ (1) Xuất xứ của tục chọn ngày chọn giờ (1) Xưng hô (2) Yến lão (1)

Sample Text

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation test link ullamco laboris nisi ut aliquip ex ea commodo consequat.

Pages

Theme Support

Need our help to upload or customize this blogger template? Contact me with details about the theme customization you need.