Hiển thị các bài đăng có nhãn Tín Ngưỡng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tín Ngưỡng. Hiển thị tất cả bài đăng

Phong Tục Lễ Cúng Tổ Tiên Cổ Đại Ngàn Xưa bài cuối

Đạo Thờ Cúng Tổ Tiên Và Những Điều Cấm Kỵ Trong Nhân Gian Cổ Đại Bài Cuối 
- 越南道教道士 - 越南道士

Đạo Thờ Cúng Tổ Tiên Và Những Điều Cấm Kỵ Trong Nhân Gian Cổ Đại


Bài Cuối

越南道教道士 - 越南道士






越南道教 - 道教神仙 - 越南道士 Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGHỀ CHĂN NUÔI

Trồng dâu nuôi tằm là một điểm đặc sắc lớn trong kinh tế canh nông của người xưa từ xưa đến nay. Bắt đầu từ thời nhà Thương, người ta đã liệt thần Tằm vào đại điển tế tự. Dân gian cho rằng, tằm là một động vật cực kỳ nhõng nhẽo, lại rất thần thánh và có tính linh, nếu có chút chểnh mảng không cẩn trọng thì cũng khiến cho chúng bị tổn thương.

Trong “U phong quảng nghĩa”, người Thanh có viết: “Buồng tằm nhất thiết không được mở ra phía sau: vì tằm thuộc loại hóa khí, mùi thơm có thể làm tán khí, mùi hôi thối có thể làm kết khí, vì vậy, khi tằm ngửi thấy mùi thơm thì sẽ bị mềm nát, ngửi thấy mùi thối thì cứng lại. Phàm là những thứ có mùi thơm như xạ hương, đàn hương, linh lăng… và những vật có mùi hôi như hành, hẹ, tỏi, kiệu,… thì đều cấm không được mang vào buồng tằm. Kỵ gió Tây Nam, kỵ đốt đèn, đốt giấy trong buồng, kỵ thổi tắt khí của khói dầu, kỵ gõ vào những vật có thể phát ra tiếng kêu như cửa, cửa sổ, vành nong; kỵ để ánh đèn chiếu vào khe cửa sổ buồng tằm vào ban đêm; kỵ mang rượu giấm vào và cũng kỵ để người uống rượu vào trong buồng; kỵ chiên xào thịt; kỵ gió lạnh quét vào lúc nóng nực; kỵ giã đồ gần bên; kỵ kêu khóc trong buồng tằm, kỵ những lời ô uế dâm tà; dùng lửa lớn khi trời đang rét; kỵ bỏ dao vào trong nong; kỵ người không sạch sẽ bước vào buồng tằm; kỵ nước tràn xuống lửa; kỵ nướng những vật có mùi khét như xương, lông lợn; kỵ mở cửa sổ đón gió; kỵ tất cả những khí có mùi tanh; kỵ khí đá vôi bị nung; kỵ khí lưu huỳnh bị đốt, kỵ mở cửa một cách vội vã, kỵ ném thải những vật ra xa, kỵ những lá đẫm nước, kỵ những lá dâu đẫm sương lạnh hay những lá khô; kỵ nóng nực, hanh khô. Những điều kiêng kỵ trên đều cần phải chú ý đến, nếu không thì tằm sẽ không nằm yên trong nong, sẽ bò ra ngoài mà chết”. Từ đó có thể thấy rằng, các triều đại nhà Nguyên, Minh, Thanh, các cấm kỵ về việc nuôi tằm thì ngày càng nhiều và rõ ràng hơn. Lá dâu nuôi tằm cũng phải dùng kéo sắt để cắt, kỵ không được dùng tay hái. Mà khi dùng kéo cắt thì cũng phải đợi khi mặt trời mọc, hơi ẩm bốc hết thì mới được tiến hành cắt lấy, kỵ cắt lấy những lá dâu đẫm hơi nước và sương. Có những cấm kỵ về việc nuôi tằm, như người vùng Sơn Đông thì kỵ không động thổ buồng tằm khi đã xuất tằm; kỵ người già, sản phụ bước vào buồng tằm, kỵ ngủ trong buồng tằm, e rằng tằm cũng trở nên lười nhác không chịu nhả tơ làm kén.

Trong nghề nuôi tằm cũng có nhiều ý vị thần bí, thường là những cấm kỵ về ngôn từ. Không được gọi tằm là “tằm”, mà phải gọi là “bảo bảo” (cục cưng), hoặc “cô nương tằm”; tằm bò thì không được nói là “bò” mà phải nói là “đi”; cho tằm ăn thì không được nói là “cho ăn” mà phải nói là “rải lá”, tằm lớn thì không được nói là “lớn”, mà phải nói là “cao”, không được đếm tằm, vì nếu không, tằm sẽ ít đi; cấm kỵ không được nói những lời không lành như “chạy rồi”, “mất rồi”, “chết rồi”; ngay cả những từ ngữ dễ gây liên tưởng đến những chữ này cũng không được nói ra. Ví dụ, không nói chữ “duỗi”, vì chỉ khi tằm chết mới duỗi thẳng. Kỵ nói “ăn cơm xong rồi” (饭吃完了), mà phải nói thành “ăn cơm no rồi” (饭吃饱了), vì chữ xong (hoàn: 完) khiến người ta nghĩ đến là “tiêu rồi”, “hết rồi”, “mất rồi” (một liễu: 没了). Những từ ngữ liên quan đến bệnh của tằm thì cũng không được nói. Như “tằm sáng” là một loại bệnh của tằm, nên kỵ nói chữ “sáng”, “trời sáng rồi” thì phải nói là “trời mở mắt rồi”; “tằm cứng” cũng là một bệnh của tằm, nên kỵ chữ “cứng” (僵), nếu nói chữ “củ gừng” (薑) thì phải đổi thành “hong ớt”, còn khi nói “nước tương” (醬油) thì phải nói thành “màu sắc”, hoặc “cái lon”. “Hành” (蔥) cũng phải nói thành “hương hỏa”, bởi vì “hành” (蔥) hài âm với chữ xung (衝), e sẽ bị xung phạm. Đương nhiên, gừng, hành, tương, vốn đã là những vật cấm kỵ không được mang vào buồng tằm, vì thế mà trong lời nói cũng cần phải kiêng kỵ.


Những hộ nuôi tằm ở vùng Triết Giang nếu thấy rắn bò vào buồng tằm thì kỵ không được hô hoán, đuổi đánh. Vì họ cho rằng Thanh Long giáng lâm, thì sẽ đem lại cái phúc cho nghề tằm, nên phải khấu bái, cúng chay, để nó tự đi.

Nuôi lợn cũng là một nghề phụ phổ biến rất được nông dân xem trọng, nó là một “con đường giàu sang”, “con đường tiền tài” của người nghèo. Rất nhiều những cấm kỵ trong nghề nuôi lợn cũng đã hình thành nên tập tục trong dân gian.

Xây hàng cột rào lợn cũng phải hết sức thận trọng, tục thời xưa còn mời cả thầy phong thủy đến để lựa chọn phương vị tránh sát khí, chọn ngày tốt để phá thổ động công, chiêu đãi thợ xây như chiêu đãi khách quý. Tục quy định, khi châm trà, dâng rượu, gắp thức ăn và tặng tiền cho thợ xây thì không được nói chuyện. Đặc biệt là, phong bì đựng tiền không được dán kín cả hai đầu, và phong bì cần phải để trên cột rào ở chuồng lợn mà không trực tiếp giao cho thợ. Khi thợ xây nhận phong bì đựng tiền thì cũng không được nói năng gì cả. Người ta cho rằng, làm như thế để làm yên hàng cột, khiến lợn mau lớn. Có nơi, khi làm xong nền hàng cột, khi mời thợ xây đến để làm hàng rào thì thợ cần phải ăn điểm tâm ngay ở hàng cột rào, không được từ chối, và phải ăn cho hết để tỏ ý là sau này lợn sẽ ăn hết bữa ăn. Nếu như thợ xây ăn không hết thì gia chủ sợ rằng, sau này lợn sẽ biếng ngủ biếng ăn, nên sẽ nhặt phần thức ăn còn lại ăn cho kỳ hết ngay tại hiện trường. Những người chủ nhà mà là người già thì cho rằng như thế đã phạm vào cấm kỵ, nên vội vàng chạy ra giành lấy phần thức ăn đó, đến nằm trong hàng cột mà ăn ngấu nghiến cho đến hết, sau khi ông ta đã ăn xong thì không ai được kéo ông ta dậy, vì cho rằng như thế, sau này lợn sẽ không những ham ăn mà còn tranh ăn, ăn xong rồi ngủ, ngủ rồi lại ăn, lớn rất nhanh. Do vậy, thợ xây hàng cột rào cho lợn cũng phải cẩn thận, có nơi còn phải phun nước thần trước khi khởi động công trình, khiến “thiên sát quy thiên, địa sát quy địa” (khí sát ở Trời thì về Trời, khí sát của Đất thì về Đất”. Có nơi còn vạch chữ “tỉnh” (井) lên nên đất để ép “sát khí”, để đảm bảo được bình an. Có nơi, người ta còn chú trọng đến vật liệu làm hàng cột rào, thường là chọn gỗ cây phong, tục cho rằng nếu dùng gỗ cây phong làm cột rào thì sẽ khiến cho lợn “phong xuy dạ trưởng” (風吹夜長: qua đêm đã lớn như gió thổi). Khi đóng cọc rào, bất kỳ là ai cũng không được bước ngang qua hàng cột rào ấy, mà phải chui qua hàng cột với một thái độ cung kính rất mực, nếu không, sau này lợn cũng sẽ nhảy qua hàng cột rào, như thế thì không tốt.

Sau khi làm xong hàng cột rào mới mua lợn con về. Khi mua lợn con, cũng phải chọn lựa ngày lành. Tục cho rằng “ngày tai”, “ngày đuôi” đều là những ngày tốt, bảo là “tai đuôi thì lớn như gió thổi”; “ngày miệng”, “ngày lưỡi” mà mua lợn về là không tốt, bảo rằng “miệng lưỡi ắt phải chết”. Mua lợn phải lựa ngày tốt lành, thích ngày chẵn và kỵ ngày lẻ. Kỵ mua lợn có đầu quá lớn, tục cho rằng những con lợn như thế sẽ chậm lớn.

Những cấm kỵ khi mua bán lợn cũng có nhiều điều thú vị. Người bán tuyệt đối không được dẫn lợn về nhà cho người mua, kỵ để người ta cười bảo là “gả con tiễn thân gia”. Nhưng nếu người mua mua nhiều hoặc già cả yếu sức, cần người bán dẫn về nhà giúp, thì có thể xin người bán giúp mình. Sau khi người bán dẫn lợn về đến nhà, thì người mua phải có cơm rượu thết đãi, ngoài việc trả tiền mua lợn, thì tiền công đi cũng được trả bằng cách bỏ vào trong phong bì đỏ, để tỏ ý làm việc hỷ. Ở vùng Hồ Nam, sau khi mua bán lợn xong, người bán thường phải nói những câu tốt đẹp như “nuôi nàng lợn không nuôi bằng cám, một chậu nước lã đổi thành cháo”, “chúc lớn từng đêm như gió thổi, tiền lợn từng năm chảy cuộn vào”. Khi người mua nghe xong bèn vội vàng cám ơn. Khi người mua dẫn lợn đến nơi sắp khuất tầm mắt, người bán sẽ kêu to lên rằng “lạc…à… lạc lạc lạc”, với ý tượng trưng là kêu lợn quay trở lại, tục cho rằng như thế sẽ khiến cho người mua nuôi lợn được hưng thịnh. Khi nông dân vùng Triết Giang mua lợn, thì người bán cần phải tặng một ít rơm cho người mua, gọi là “cỏ nhà mẹ đẻ”, mang ý nghĩa là lợn con cũng sẽ được lớn lên một cách mạnh khỏe như là ở nhà của mẹ đẻ của nó vậy. Khi về đến nhà, thì có nơi dùng ống thổi lửa để khiêng sọt lợn, để tỏ ý rằng lợn con sẽ lớn rất nhanh. Thời xưa, khi nhốt lợn vào trong hàng cột rào, thì phải đốt hương tế thần rào lợn, rồi mở cửa hàng rào ra cho nó tự vào, không được túm lấy nó mà bỏ vào qua hàng cột rào. Khi lùa lợn, người mua tay trái cầm hai hòn đá, tay phải cầm bát trà, đầu tiên, tay trái ném hòn đá đến nơi sạch sẽ, khô ráo mà đánh cho nó ngủ ở đấy, đồng thời nói rằng: “Đây là nơi mày ngủ đấy nhé”. Sau đó ném hòn đá thứ hai đến nơi rãnh nước, và nói: “Đây là nơi mày đi ị đi đái đấy nhé”. Sau đó thì người chủ sẽ liên tục uống ba hớp trà, quay ngoắt ngưồi đi, không nhìn lại. Nếu như lợn không chịu vào trong hàng cột rào thì không được mắng, mà nhẫn nại lùa cho nó vào. Sau khi người chủ trở vào mà có láng giềng hoặc có khách đến thăm thì người chủ sẽ đun một ít nước đường (chè) đưa cho họ uống, người khách hay người láng giềng ấy cần phải uống một hơi cho hết, nhằm để lấy ý mừng “một chậu nước lã lớn được mười cân”. Ngạn ngữ nhà nông có nói “Nuôi heo có khiếu, hàng rào no cám”. Nuôi lợn thì phải có hàng rào, phải năng quét phân lợn. Ở nhiều nơi, khi quét phân thì cần phải treo một cái áo màu nâu, như thế thì sẽ tránh được “địa sát”. Để cho lợn ăn cám được no, nhà nông cần phải năng nấu cám lợn, và thường là hái thêm một ít rau dại để xen trộn vào cám, để “giáng hỏa” cho lợn. Sau khi lợn nuôi được một tháng, cần phải thiến lợn, chủ hộ cần phải luộc trứng gà, nấu miến mời thầy thiến lợn dùng. Sau khi lấy tinh hoàn và noãn sào ra, thì cần phải hô to rằng “mau cao mau lớn”, sau đó vứt lên nóc nhà, kỵ để rơi xuống đất, nếu không, gia chủ sẽ cho rằng con lợn ấy có điềm không tốt, nuôi không lớn, cần phải bán đi và mua lại con khác.

Những hộ nuôi lợn nái thường đều kỵ không giết lợn nái, người ta cũng thường kỵ ăn thịt lợn nái, cho rằng, thịt lợn nái có “độc”, ăn vào sẽ sinh bệnh. Ở một vài hộ, khi lợn nái đã già, thì mời thầy thiến lợn đến để thiến nái, đợi khi nuôi cho mạnh lên rồi mới được giết, tục gọi là “bà lợn già bị thiến một dao”.

Khi muốn ăn thịt lợn nuôi thì đợi đến lúc lợn mạnh khỏe mới giết. Trong dân gian, việc giết lợn cũng có nhiều cấm kỵ. Lưu hành nhất là giết lợn đầu năm năm. Giết lợn thì không được nói là “giết”, mà phải gọi là “xuất chuồng”. Xuất chuồng vào ngày sửu mới được xem là tốt, kỵ không giết vào ngày tý, để tránh sau này lợn nuôi chỉ bé bằng con chuột, mà chỉ mong cho nó lớn như con trâu vậy. Khi xuất chuồng, cần phải cúng tế “thần rào lợn”, và chúc nó kiếp này làm lợn, kiếp sau làm người, khi giết lợn đầu năm thì kỵ không có dây buộc, để lợn chạy qua nhà người. Vì có người tin rằng “lợn đến thì nghèo”, chủ nhà chỉ đành “treo vải đỏ”, đốt pháo để cáo lỗi, sau đó mới có thể dẫn lợn trở về. Khi xuống dao giết lợn, người đồ tể sẽ nói “xuất thế làm người”. Trẻ em và phụ nữ cấm không được nhìn. Có nơi, người phụ nữ nuôi lợn sẽ đứng ở cửa kêu lên “Lợn về đi!”, tỏ ý lợn không đi, mỗi năm đều có thể có lợn để giết thịt. Chủ nhà đều hy vọng là một nhát dao giết chết lợn đầu năm, ộc ra máu đỏ tươi và có lẫn bọt bóng, người ta bảo rằng, đó là điềm “huyết tài tốt”, nuôi lợn sẽ rất hưng thịnh, kỵ một nhát dao giết không chết lợn. Nếu giết một dao, máu ộc ra, lợn giãy giụa lăn xuống đất nhưng lại không chết, thậm chí còn chạy đi, thì cần phải giết thêm một nhát dao nữa; hoặc khi máu đỏ có sắc đen, bọt bóng không đỏ cũng không trắng; hoặc là khi cạo lông mà trong mõm lợn vẫn còn khí thở và có tiếng thở nhè nhẹ, người ta gọi đó là tiếng than thở của lợn, đều là những điềm không tốt, gia chủ lo sợ rằng, năm sau nuôi sẽ không được hưng thịnh, lại vừa lo rằng, nếu đó là lợn Linh Quan, thì không được giết. Khi giết thì cần phải “hóa thân” (hóa trang), dùng nhọ nồi, mực… để bôi lên mặt, lấy áo trùm lên đầu, và đội lên cái nón lá, lưng thì mặc áo tơi, chân thì mang giày, giết mạnh bằng một nhát dao rồi quay mình mà chạy đi. Cấm không được giết lợn Linh Quan ngay trong phòng, mà phải giết ở nơi góc đường. Máu của nó không được dùng để cúng thần, cũng không để người ăn, cứ để cho nó chảy đi. Sau khi giết chết rồi thì phải đợi ít nhất là nửa tiếng đồng hồ sau mới có thể khiêng về trong nhà.







越南道教 - 道教神仙 - 越南道士 Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGHỀ SĂN BẮN

Săn bắn là một nghề mưu sinh có từ thời xa xưa, rất nhiều các tộc người của xưa đều có lịch sử săn bắn rất lâu dài. Trong nghề săn bắn cũng có rất nhiều tập tục cấm kỵ.

Trước khi đi săn, thợ săn phải tiến hành nghi thức tế tự, cúng hiến thần săn. Những người thợ săn còn tin rằng, dã thú có linh tính, vì vậy mà thường thì không dám gọi thẳng tên của chúng, mà phải gọi với một cái tên khác. Ví dụ, người ta gọi hổ là con “đại trùng”, là “thần”; còn gấu thì gọi là “lão gia”, “lão gia tử”… Họ còn tin rằng, dã thú có khả năng dự báo trước những sự việc, nếu thợ săn không tuân thủ nghiêm chỉnh những cấm kỵ nào đó thì dã thú có thể biết được phương hướng hành động của thợ săn mà chạy đi mất. Ví dụ như, người Ngạc Luân Xuân, Ngạc Ôn Khắc thì đều cấm kỵ việc nói cho người khác biết chuyện mình đi săn trước khi đi săn, cấm kỵ nói “chúng ta đi đặt bẫy”. Và càng cấm kỵ không nói cho người khác biết nơi chốn và phương hướng đi săn, ngay đến người trong nhà cũng không ngoại lệ.

Trong thời gian săn bắn, thợ săn người Ngạc Luân Xuân, Ngạc Ôn Khắc cấm kỵ không nhắn thư cho người nhà, và người nhà cũng không được nhắn đến, nếu không thì không có lợi cho việc săn bắn. Khi săn thú, cấm kỵ không được dùng cây gậy để vắt ngang lên trên đường đã đi qua, khi cần dùng gậy để là dấu hiệu thì cũng phải để thuận chiều. Người ta nói rằng, nếu để gậy ngang đường thì sẽ khiến cho việc săn bắn gặp nhiều trở ngại, không thuận lợi. Việc nhóm củi lửa khi săn cũng cấm kỵ để củi cháy sụp xuống, vì cho rằng củi lửa bị sụp sẽ làm động đến Sơn thần gia (Bạch Tra Na) khiến việc săn bắn không có hiệu quả. Củi dùng để nhóm lửa nên ngắn, kỵ dài, vì nếu củi nhóm mà dài thì số ngày đi săn cũng sẽ bị kéo dài ra. Trong thời gian săn bắn, người ta kiêng kỵ tất cả mọi tiếng động. Không được ca hát, nhảy múa hay nói chuyện lớn. Khi đi săn, người Ngạc Luân Xuân cấm không được huýt gió tùy tiện, vì người ta cho rằng, nếu làm như thế thì sẽ gây gió lớn; khi đi săn, người Ngạc Ôn Khắc cấm kỵ không được kéo động cái nồi lúc nấu cơm, khi bới cơm thì cũng không được cạo nồi gây ra tiếng vang. Khi gặp dã thú thì cũng không được chỉ trỏ, nói năng bừa bãi.

Khi đi săn, người Ngạc Luân Xuân và người Ngạc Ôn Khắc còn kỵ giữa những người đi săn với nhau mà tạo nên sự mất đoàn kết, kỵ cãi nhau và đánh nhau khi ra đi săn, nếu không thì nhất định sẽ không gặp được con thú nào. Nếu có hai đoàn người đi săn gặp nhau thì phải hợp lại làm một, cùng nhau vây thú, và chia thú đồng đều cho nhau. Nhưng thời gian tối đa mà hai đoàn người đi săn này sáp nhập với nhau là một hoặc hai ngày, sau đó sẽ phân rẽ ra. Khi săn thú, nếu gặp dã thú thì không được tranh bắn thú trước, nếu không, không ai có thể tìm ra được con thú bị bắn ấy. Sau khi săn được hươu, ngạn thì cần phải xóa sạch vết máu, vết dơ lưu lại trên đất. Tại hiện trường đợi thú săn, thì không được vứt đầu thuốc, vỏ đạn, phân, một phần là e rằng sẽ gây ảnh hưởng cho người đi săn đến sau.

Khi săn thú, người Ngạc Luân Xuân còn cấm kỵ không được bắn con dã thú đang giao phối, vì cho rằng, khi bắn loại thú này thì sau này sẽ không thể nào săn được những con thú khác nữa. Nhưng nếu đợi đến khi con dã thú giao phối xong thì lại có thể bắn nó.

Đối với một số tộc người, khi săn bắn thì người ta còn sợ gặp phải sự quấy nhiễu của người ngoài hoặc của thần linh ngoài thần săn bắn. Ví dụ như, khi đi săn thì người Lạc Ba kỵ gặp phải người ngoài, nếu nhỡ gặp phải thì phải nhẹ nhàng tránh đi. Vũ khí săn bắn cũng kỵ để người ngoài nhìn thấy, nếu không, họ cho rằng linh hồn của người lạ sẽ cướp con thú đã săn được đi, khiến họ có săn mà không có thú. Người Ngõa thì kỵ không cho người khác mượn súng và cung mà bản thân mình chưa dùng qua, nếu không, bản thân người chủ sẽ không bắt được thú. Người Ngạc Luân Xuân cũng cấm vẩy rượu lên lửa trong lồng vào lúc săn thú.

Đối với người Ngạc Luân Xuân, trong khi săn bắn mà săn được một con hươu, một con ngạn hoặc một con lợn rừng, thì đầu tiên cần phải tế Sơn thần tại nơi ấy. Nếu không dùng con vật ấy để tế thì trong khi săn, thợ săn sẽ bị bệnh hoặc săn không được thú. Đối với thợ săn của vùng núi Trường Bạch, mỗi khi bắn trúng một con hươu đực, cần nhanh chóng chạy đến và ôm đầu hươu, nhằm phòng tránh hiện tượng do bị thương mà hươu làm gãy nát nhung hươu. Khi săn hươu đực thì kỵ những con hươu có nhung chưa lớn. Bình thường khi săn “thái vi”, tức chỉ tìm một con thú để săn, như báo chẳng hạn, thì cấm kỵ nhất là giết hươu đực, hươu cái. Thời xưa, người Tích Bá cấm kỵ săn giết cáo. Người Ngạc Luân Xuân, Ngạc Ôn Khắc khi săn được con dã thú lớn, như gấu, lợn rừng… thì khi mổ bụng lấy nội tạng ra, trái tim và lưỡi cần phải để ở cùng một chỗ. Chỉ khi nấu ăn chín thì mới được chặt thịt ra, nếu không, sau này sẽ không săn được loài dã thú này nữa.

Người Ngõa khi đi săn, họ chấp hành câu cách ngôn “người gặp cũng có phần” một cách rất nghiêm túc, kỵ chia thiếu phần. Nếu không, đó chính là một sự miệt thị rất lớn đối với người bạn săn, sẽ dẫn đến tranh chấp. Tục này còn cho rằng, khi đi săn trên núi cao, thì thịt của mỗi bữa ăn cần phải ăn cho hết, không được mang trở về nhà.

Người Ngạc Luân Xuân và người Ngạc Ôn Khắc có nghi thức sùng bái và một vài cấm kỵ rất đặc biệt đối với gấu. Sau khi thợ săn săn được gấu thì không được nói “săn trúng rồi”, mà phải nói rằng “thật là đáng tội nghiệp cho tôi”. Gấu bị bắn chết không được nói là “chết rồi”, mà phải nói thành “bố thổ cáp”, hoặc “a phạ kháp”, tức có nghĩa là “thành rồi”, hoặc “ngủ rồi”. Ở bãi săn, sau khi đã săn được gấu thì đầu tiên, người già sẽ đến để xem đó là gấu đực hay gấu cái, cấm trai tráng đếm xem. Bởi vì sinh thực khí của gấu hoàn toàn giống với của người, cho rằng, nếu để thanh niên trái tráng đếm xem thì sẽ mắc bệnh đái gắt. Khi lột da thì phải dùng tấm thảm hoặc những thứ khác để đậy lên phần thân dưới của gấu. Nếu là gấu đực thì đầu tiên là cắt tinh hoàn treo lên trên cây, sau đó mới lột da. Người ta cho rằng, chỉ có như vậy thì gấu đực mới thành thực khi gặp người. Đồng thời, phải đẩy máu động mạch về tim, không được cắt đứt động mạch. Sau khi moi lấy ruột ra và quấn ba vòng quanh đầu gấu thì mới được cắt cổ gấu. Không được ăn thịt đầu gấu, sau khi cắt ra thì dùng cỏ quấn lại, để lên trên giá cây tiến hành nghi thức phong táng. Những người thợ săn còn phải quỳ lạy đầu gấu, kính hương, dập đầu trước gấu và cầu xin thú săn trước đầu gấu, đồng thời, phải dùng khói hương hơ đầu gấu. Sau đó, cầm tấm da gấu đi qua cửa của từng nhà để cho gấu từ biệt mọi người, tấm da gấu ấy sẽ được tặng cho người già. Khi trở về nơi khiêng gấu đi, thì còn phải giả bộ khóc lóc. Phải dùng ngựa thiến để thồ gấu đi, không được dùng ngựa cái hoặc ngựa đực để thồ gấu. Thịt gấu phải được người của cả thôn cùng ăn. Con dao cắt thịt gấu không được gọi là dao, mà phải gọi là “khắc nhĩ căn cơ”, ý nghĩa là con dao cùn cắt không đứt gì cả. Cây súng bắn chết gấu thì cũng không được gọi là súng, mà phải gọi là “hô ông cơ”, ý là công cụ bắn không chết một loài động vật nào, hoặc gọi là “ống thổi (khạc) lửa”. Khi ăn thịt gấu, trong miệng phải phát ra tiếng “chách chách, cụp cụp”, tỏ ý rằng không phải họ đang ăn thịt gấu, mà là con quạ đang ăn vậy. Hai chân trước của gấu thì đàn ông không được ăn. Nếu đã ăn rồi, thì sau này gấu sẽ cướp mất súng săn. Đối với đầu gấu, tim gấu và nội tạng của gấu thì cho dù bất kỳ là ai thì cũng không được ăn, mà phải phong táng cùng với xương còn lại sau khi ăn. Khi phong táng, mọi người cần phải ra vẻ đau thương khóc lóc, và còn phải dập đầu, kính hương, cầu chúc.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGHỀ ĐÁNH CÁ
Những người sống gần sông rạch, hồ, biển đa phần là những người sống bằng nghề đánh cá. Nguồn tài nguyên thủy sản phong phú như cá, tôm, trai, cua đều là mục tiêu đánh bắt và là điều kiện mưu sinh của ngư dân. Việc làm ăn trường kỳ trên sông nước đã khiến cho con người kết một duyên kiếp không thể nào dứt ra được với những công cụ đánh bắt như thuyền, lưới… Những điều mê tín trong phương thức sử dụng công cụ và phương thức đánh bắt, cùng với ý thức cầu cát tỵ hung thể hiện trong tín ngưỡng và ngôn ngữ thuộc nghề đánh cá đã tạo nên những cấm kỵ dân gian.

Thuyền là một công cụ quan trọng trong nghề đánh bắt thủy hải sản. Người và thuyền được gắn liền nhau, thuyền là “sợi dây sinh mệnh” của ngư dân. Ngư dân thường nhân tính hóa, sinh mệnh hóa con thuyền, ở hai tuyến giữa ngang và dọc dưới thuyền thì tuyệt đối không được đóng đinh, người ta nói rằng, nếu đóng đinh lên hai tuyến giữa thì sẽ khiến cho tính đực của thuyền sẽ lớn lên, khi ở trên biển mà tính đực của thuyền phát tác thì khó mà khống chế được, nó sẽ chủ động đụng húc vào thuyền khác, gây nguy hại đến sự an toàn của con người. Ngoài ra, khi đóng thuyền, người ta có cách nói “đầu không đụng vào cây dâu, chân không đạp vào cây hòe”, có nghĩa là, khi đóng thuyền thì không dùng gỗ cây dâu làm mũi thuyền, không dùng ván cây hòe làm đuôi thuyền. Bởi vì “cây dâu” (桑tang) đồng âm với “tang” (丧 tang tóc), phạm vào kỵ húy, vì thế mà tuyệt đối không được dùng gỗ cây dâu đóng mũi thuyền. Cây hòe tượng trưng cho điều phúc, nên không được dùng để đóng đuôi thuyền, e rằng sẽ giẫm phải lên điều phúc.

Những cấm kỵ về thuyền của ngư dân Đông Hải lại rất đặc biệt. Trước khi ra biển, những đồ vật chỉ có thể đưa vào trong thuyền mà không được mang từ trong thuyền ra. Vào buổi tối, nếu ngư dân đưa nhầm mùng mền của mình vào thuyền của người khác thì cũng không thể trả về, đợi đến khi cho thuyền chạy ngược lại thì mới đem trả mùng mền lại. Sau khi ngư dân lên thuyền thì không được mang giày, không rửa mặt. Bất luận là vào mùa đông hay mùa hè thì cũng chỉ được mặc quần đơn, khi mùa xuân đến thì anh cả (lão đại) trong thuyền mới mới quần dài, tất cả anh em cùng làm ăn trong thuyền chỉ mặc quần cộc, vì như thế thì mới dễ dàng nhận ra ai là anh cả trong thuyền.

Nơi ăn cơm trên thuyền cũng được cố định, không được ngồi tùy tiện. Thức ăn thì đặt ở giữa, ai nấy đều chỉ ăn thức ăn phía bên mình, kỵ ăn thức ăn ở phía đối diện hoặc ở cả hai bên. Trên thuyền, không được ngồi gác chân. Khi ngồi trên ghế thuyền thì cấm không được bỏ thõng chân. Không được tiểu tiện ở phía đầu thuyền, mà chỉ tiểu tiện ở hai bên mạn thuyền. Không được dùng những vật không sạch để đưng cá, như ky đất chẳng hạn, không được dùng chân đá vào cá vàng. Trên biển, giữa thuyền và thuyền với nhau thì không được mượn đồ dùng của nhau, nếu cần thiết phải mượn thì đầu tiên phải lấy củi đưa cho đối phương, tục gọi là “rút đầu đỏ”. Phàm là khi lái thuyền ra biển thì không được ngồi kiểu bảy nam một nữ trên thuyền, người ta cho rằng, việc này có liên quan đến câu chuyện bát tiên. Ngoài ra, ngư dân Đông Hải còn có tục không bước vào buồng sinh, khi vợ sinh con, thì ngư dân sẽ cởi quần áo ra, nếu không, thứ quần áo đó sẽ không sạch sẽ, không tốt.

Những cấm kỵ liên quan đến chiếc thuyền của người Hoàng Hải cũng có sự khác biệt so với vùng Đông Hải. Một số linh kiện và dụng cụ trên thuyền đều lấy mười hai con giáp để đặt tên chuyên dụng cho chúng một cách cố định, ví dụ như dây cáp nhỏ thì gọi là đuôi chuột, máng thuyền thì gọi là mõm ngựa v.v. Những ngư dân lên thuyền ra biển thì không được để hai chân trần, mà ít nhất là phải mang một đôi giày bện bằng cỏ bồ. Eo lưng cũng phải dùng dây nịt làm bằng sợi lãng ma nịt lại, hoặc là buộc quần lại; không được để đầu trần, mà cần phải đội nón lên, ngay cả khi cởi hết quần áo để lặn xuống nước thì cũng phải đội nón, tục cho rằng, nếu không đội nón thì khi xuống nước, đầu sẽ phát sáng, và khiến cho những con quái ngư tuy rằng ở cách đó rất xa nhưng cũng sẽ nhìn thấy và sẽ đến ăn thịt người. Khi ở trên thuyền thì cấm không đuợc hai tay bó gối, cũng không được chắp tay ra sau lưng, nếu không sẽ không bắt được cá. Khi nhìn thấy quái ngư, quái thú thì không được hỏi bằng những câu bất cát bất lợi như “nó có ăn thịt người không”, hay “liệu có sóng lớn không”.

Khi làm ăn trên thuyền, làm việc gì cũng phải làm dấu hiệu, tất cả đều có luật vận tiết tấu của nó, nhưng khi gặp gió to thổi tốc mái che thì không cần dùng dấu hiệu. Khi kéo lưới bắt cá thì không được thò tay bắt đuôi cá, mà phải bắt đằng đầu, ngụ ý rằng, bắt đầu cá thì sẽ hốt được cả bầy cá. Theo tục xưa, ngư dân vùng Hoàng Hải rất sùng kính Long vương, Thiên hậu và Sở Thái gia. Trên mỗi một chiếc thuyền còn có “lão tiên sinh”, như “gia đường bồ tát”, ngày thường, anh em sẽ bưng cơm đến cúng. Khi sửa thuyền, cần phải dùng ván khoang hoặc những vật khác để dựng tạm một “miếu đường” trên bãi biển, đây cũng chính là nơi cấm kỵ như nơi cấm kỵ ở trên thuyền, những sinh hoạt ngày thường cấm không được tiến hành ở nơi này. Khi sửa thuyền xong và cho xuống nước, thì cần thỉnh “lão tiên sinh” và bài vị lên thuyền. Tương truyền rằng, “lão tiên sinh” chính là người trên thuyền bị lâm nạn trong thời gian trước kia, do vậy mà ông ấy biết dạy cho mọi người phải giữ gìn tuân thủ cấm kỵ như thế nào, để tránh không cho xảy ra những điều bất hạnh ấy nữa.

Tục có câu “trong nửa tấc ván là nhà mẹ đẻ, ngoài nửa tấc ván là phủ Diêm vương”, khi làm việc trên thuyền, thì khó có thể biết rằng khi nào sẽ có điều bất trắc xảy ra, luôn ở trong biên giới của sự nguy hiểm, vì thế mà những cấm kỵ càng nhiều, càng nghiêm.

Nhà có thuyền thì gọi là thuyền hộ 船户, một số thuyền hộ lớn có thể kiêm cả một số nghề công thương khác, theo cách nói của xã hội thì có thể gọi đấy là “ông chủ” (lǎo bǎn), nhưng ở đây, người ta kỵ không nói như vậy, vì “ông chủ” (lǎo bǎn老闆) lại đồng âm với “vớt ván” (láo bǎn 撈版), chỉ khi thuyền gặp gió lớn trên mặt biển, sau khi thuyền bị gió giật vỡ thì người vớt ấy mới được gọi là “vớt ván”, nếu gọi là “ông chủ” thì sẽ phạm vào ngôn ngữ cấm kỵ của người trong thuyền hộ. Trên thuyền, người ta kỵ nhất là những chữ “lật, chìm, vỡ, dừng, xa, tán, lộn ngược, lửa”…

Khi nói đến chữ “phàm bồng 帆蓬” (fan péng - buồm) thì người ta chỉ nói đến chữ bồng, mà không được nói đến chữ “phàm”, vì nó đồng âm với chữ “phiên” (fan 翻 - lật ngược). Khi kéo vật từ trên cao xuống, hay lật ngược những vật đang đựng xuống thì không được nói là kéo hay lật ngược, mà phải gọi là “tiểu 小”. Hạ buồm xuống thì gọi là “tiểu bồng 小蓬”; gác chèo xuống thì gọi là “tiểu nguy 小桅”. Hạ buồm xuống một phần thì gọi là “tha bồng 擦蓬”, hạ xuống 1/5 thì gọi là “tha lương đại bả giác” (xoa hai góc lớn 擦梁大把角); buông ½ thì gọi là “tha lương tiểu bả giác” (xoa hai góc nhỏ擦梁大把角); hạ xuống đến mức thấp nhất chỉ còn khoảng 1/10 thì gọi là “tha đáo ma ma sí” (xoa đến cánh ma ma 擦到媽媽翅). Khi kéo vật từ dưới thấp lên cao thì kỵ không nói là kéo hay lôi, mà phải nói là “nâng”, “giơ”, “nâng buồm”, “bắt neo”. Nếu muốn chuyển đề tài hoặc đổi đầu thì nói nói chữa thành “chuyển một sào chống”, chữ “lật ngược” bị cấm kỵ một cách rất rõ ràng. Những thứ như cái búa, con dao, dao đá, cái kéo đều được gọi là “anh chàng nhanh nhẹn”. Cá chết rồi thì gọi là “cá thẳng rồi”.

Trong thuyền không được chở người chết, tục cho rằng như thế sẽ không tốt. Người ta còn cấm chữ “tắm 洗”, ví dụ như khi tắm gội thì nói là “gội một chút mát mẻ 沖涼”, vào sáng sớm thì kỵ những chữ như “cọp”, “khỉ”, “ma”. Nếu có chút không cẩn trọng thì chủ thuyền sẽ trách mắng. Chống cái gì hoặc đệm cao cái gì đó thì đều gọi là “nâng cao một chút”. Khi thuyền cập bến hoặc vào cảng, thì gọi là thu bờ, thu cảng, thu cửa; người ngủ trên thuyền thì gọi là “khải giác 凱覺”, ngủ một lát thì gọi là “khải nhất hội 凱一會”. Khi ở trên thuyền, cầm vật mà không cẩn thận để vật rơi xuống, thì không được hốt hoảng la lên rằng “oái oái”, càng không được nói “oái, vuột tay mất rồi”, trên thuyền tối cấm kỵ nói đến chữ “vuột tay”, vì đó là biểu hiện của hiện tượng không cứu được người chết đuối. Nếu có người không biết hoặc vô ý mà phạm phải cấm kỵ này thì cần phải đến anh cả (lão đại) của thuyền mà hung hăng đánh ông ấy một bạt tai, người bị đánh không được có phản ứng gì, người khác thì cảm thấy đánh như vậy là đáng, và đánh càng mạnh thì càng tốt. Vì đánh bạt tai khiến cho người ta có thể khu trừ xui xẻo, đánh càng mạnh thì xui xẻo càng bị trừ sạch sẽ.

Ở Thượng Hải, những lời kiêng kỵ thì không được nói, những việc cấm kỵ thì không được làm. “Hải Châu dân tục chí” có đoạn viết giới thiệu về ngư dân như sau: “Những đồ gia cụ, những sọt cá khi hong phơi thì chỉ được để miệng đồ hướng lên phía trên mà không được lật hướng về phía dưới”. Lại nói rằng “Khi ngủ chỉ được nằm nghiêng hoặc nằm ngửa, không được nằm sấp. Đó là vì khi đàn ông chết đuối, thây nổi lên, phần mông hướng về phía trên”. Chiếc neo sắt lớn nhất để ở đầu thuyền được gọi là neo thái bình, nếu chưa đến nỗi vạn phần nguy khốn thì không được động đến chiếc neo đó. Phía sau thuyền có một vài cái rổ lớn đan bằng tre, chuyên để dùng khi gió to đứt neo, người ta bỏ những cái rổ ấy để cản nước, có tác dụng là làm ổn định thần thuyền, khiến thuyền có thể trôi chầm chậm thuận theo thế gió, người ta gọi đó là rổ thái bình. Trong khoang sau, người ta để một cái búa lớn, rất bén, chuyên dùng để chặt cột chèo và chặt dây neo một cách cấp thời khi thuyền gặp phải gió giật, gọi là búa thái bình. Vào lúc bình thường, người ta không được động chạm gì đến ba vật “thái bình” này, không được bước ngang qua chúng, càng không được làm những việc phạm vào cấm kỵ, nói những lời kiêng kỵ ngay trước chúng. Nếu có người vô ý nói những lời hoặc làm những chuyện phạm cấm kỵ thì ngoài việc bị đánh bạt tai, anh cả còn phải đốt hương dập đầu trước chiếc neo thái bình, miệng lẩm nhẩm: “Lão neo lão neo đừng trách cứ, phải nới lòng (lượng thứ) đối với chuyện làm của tiểu nhân”. Khi thuyền đang trên biển, bất có bất kỳ thứ gì trôi trên sóng trên gió đều không được nhìn và cũng không được nhặt lấy.

Tất cả mọi sinh hoạt của con người trên thuyền đều phải được tiến hành trên mui sau của khoang thuyền, vì cho rằng mui sau cách xa với mặt nước biển; khoang sau được gọi là khoang rỗng, nếu sinh hoạt ở đây thì sẽ tránh được những động chạm đến thế giới của Long vương. Vào bất kỳ lúc nào cũng không được tiểu tiện ở hai bên mạn thuyền, mà là ở mui sau, và vào bất cứ lúc nào cũng không cho phép hai người đại tiểu tiện cùng lúc với nhau, cho rằng “hai người đái vào nhau, tất sẽ gặp gió bạo”. Ở vùng Triết Giang, người ta kỵ không để phụ nữ đi lên trên đầu thuyền, người ngoài mà chân không sạch cũng không được đến đầu thuyền. Ngư dân vùng Phương nam thì kỵ người bước ngang qua mũi thuyền, cho đó là điềm không lành; ở vùng Triết Giang, nếu như hai chiếc thuyền song hành với nhau, thì kỵ không được dùng dây lòi tói sắt để xích vào nhau; vùng Triết Giang, An Huy thì cấm không được chở vật chết trong khoang thuyền, tục cho rằng như thế sẽ bất cát bất lợi; ở một dải đất Hồ Châu Triết Giang, cấm kỵ hành khách nam nữ giao cấu với nhau trên thuyền; vùng Phương nam khi ra biển đánh cá thì kỵ để chuột trong thuyền chạy mất, tục cho rằng, đó là điềm không lành. Khi gặp tình hình như vậy thì cần phải tìm cách mời chuột trở lại thuyền, sau đó mới dám ra biển đánh bắt cá.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGÀNH THƯƠNG NGHIỆP

Trong ngành thương nghiệp thì đầy rẫy những rui ro, ẩn tàng nhiều cái bẫy chết người, vì thế mà ngay từ thời xưa, giới thương nhân cũng đã hình thành những tập tục cấm kỵ tránh hung tìm cát. Những người trong ngành thương nghiệp luôn hy vọng rằng, khi thông qua những cấm kỵ ấy thì có thể gặp may mắn trên con đường tiền tài, buôn bán.

Có nhiều phương pháp trong giao dịch thương mại, nhưng thường được chia thành hai loại chủ yếu là ngồi tại chỗ mà buôn bán tại (tọa thương) và đi lại để buôn bán (hành thương). Đi lại buôn bán còn được gọi là chạy bán, hay bán du động. Còn ngồi tại chỗ buôn bán là thường cố định buôn bán tại một nơi, nhiều nhất là các hàng quán, tiệm bán hàng, thường tập trung nhiều ngành nghề buôn bán lại với nhau. Hai loại buôn bán này cũng đều có những cấm kỵ của nó.

Buôn bán du động cũng có nhiều nghề khác nhau, những cấm kỵ cũng có sự khác biệt. Thường mà nói thì những người kinh doanh buôn bán mỗi khi gánh hàng ra cửa thì họ kỵ “tháng kỵ ngày” (mùng 3, ngày 14, ngày 23), khi ra đường thì kỵ gặp phải quạ, càng kỵ gặp ni cô, hòa thượng. Đòn gánh để gánh hàng đi buôn thì kỵ không để người khác bước qua, càng kỵ để phụ nữ lấy chân đá vào nó. Có nơi, khi gặp những người cưỡi ngựa ra ngoài buôn bán thì kỵ nói đến những câu liên quan đến lang sói hổ báo, nếu không, khi đi ra ngoài sẽ gặp điều không tốt. Thương nhân khi đi ra ngoài đường thì kỵ không được nói đến những lời bất cát bất lợi, không được đạp vào gót chân của người khác, nếu không thì sẽ luôn thua sút với người, gặp xui xẻo và không kiếm được lời. Trong việc mua bán ở nông thôn và ở các chợ thuộc vùng Tứ Xuyên, khi thương lượng giá mua bán lợn, trâu thì người ta thường kỵ nói những con số chẵn, vì cho rằng, số chẵn có ý nghĩa là hết rồi, không còn gì nữa, như thế sẽ không tốt, con vật được mua về nuôi sẽ khó mà lớn được.

Những cấm kỵ trong loại buôn bán cố định là rất nhiều. Chủ tiệm rất kỵ vào sáng sớm mà mua bán không thành với người khách đầu tiên, vì e rằng suốt ngày sẽ phải gặp xui xẻo. Trong tiệm, kỵ chống eo lười nhác, hoặc ngáp, hoặc đạp lên vải bọc trên đất, hoặc ngồi ở ngạch cửa, hay gõ vào bàn tính tiền, đứng tựa cửa mà lưng hướng ra ngoài, đùa bàn tính và cất bàn tính…, tục cho rằng, những hành vi này là biểu hiện bất kính với thần tài bồ tát, sẽ gây bất lợi cho việc làm ăn kinh tế. Khi quét tiệm thì kỵ quét ra ngoài, mà cần phải quét hướng vào trong, ý là quét vàng bạc châu báu vào nhà. Gặp ống đồng trên mặt đất thì kỵ không được nhặt lấy, khi đếm tiền bạc thì phải hướng ra bên ngoài.

Mua lợn thì phải nói là mua “chợ lời”; khách hàng khi mua đồ dùng cho đám cưới mà nhỡ tay làm vỡ vật, thì sẽ phải nói rằng “khai hoa trước, kết quả sau”; khi mua con mực thì phải gọi là cá mực (trong tiếng Hoa, cá mực có hai cách gọi, thứ nhất là ô tặc 烏賊 (thằng giặc đen), thứ hai là mặc ngư 墨魚 (con cá phun mực), người ta kỵ cách nói thứ nhất, nhưng trong tiếng Việt thì cả hai cách nói này chỉ có thể dịch là cá mực, nên vì thế mà không thấy rõ được sự cấm kỵ - TDK); khi bán quan tài thì kỵ hỏi thăm là ai chết, và gọi quan tài là “chiếu trường thọ”; khi mua thuốc thì kỵ ngửi, cho rằng, thuốc mà bị ngửi qua thì mất tác dụng, khi đưa cho người mua thì cần phải nói là “cho gửi thuốc bổ”. Những người kinh doanh trong tiệm thuốc, tiệm quan tài, khi có khách đến thì kỵ nói những câu như “anh đến nữa nhé”, “rất vui mừng được đón tiếp anh nữa”. Nếu không, khách hàng sẽ cho rằng anh ta đang nguyền rủa người trong nhà mình là sẽ “bị bệnh nữa”, “có người chết nữa”.

Khi bán vải vóc thì kỵ không gõ vào cân; khi bán rượu thì kỵ không lắc lắc chai rượu, nếu không, người ra bảo rằng, khi uống thì đầu óc sẽ choáng váng. Đầu năm, khi nhập hàng vào cửa hiệu thuốc, thì phải nhập vào vị thuốc đại hải lớn và hạt sen lớn để lấy cái ý đại phát đại lợi. Ở các tiệm uống trà, tiệm cơm thuộc vùng Nam Kinh Giang Tô, thì ba người ngồi một bàn, nếu như trống một ghế thì không được ngồi, gọi là “ngồi kiểu đóng cửa”, chủ tiệm rất kỵ. Những người hầu bàn trong các nhà hàng, quán rượu thì tối kỵ người khách đứng đầu gọi món “cơm chiên” (炒飯), vì trong tiếng Quảng Đông, “chiên” (炒 chǎo) có nghĩa là sập tiệm. Khi làm bếp mà nghe thấy tiếng “chiên” thì cũng cho là không tốt. Những nhân viên làm việc trong cửa hiệu không được đọc sách, cho dù có rảnh rỗi thì cũng không có ngoại lệ. Ông chủ thì muốn một vốn vạn lời, đâu dễ gì để bị thua lỗ? Vì thế nên mới cấm kỵ vậy. (Ở đây, các ông chủ cửa hiệu cũng kỵ hiện tượng hài âm giữa “sách” (書 shu) và “thua” (輸 shu) - TDK). Trước đây, ở một số khu vực của người Hán, người ta có cấm kỵ khi bán lợn là bán lợn không bán dây. Người bán lợn thì tất sẽ phải dùng dây buộc để dẫn lợn đi, nhưng khi bán lợn thì phải thu lấy dây về, vì cho rằng nếu bán luôn dây thì sẽ bị người ta mang vận may của mình đi mất, sau này có nuôi lợn nữa cũng sẽ không tốt.

Trong các cửa hiệu thương nghiệp thì cửa hiệu thuốc là nơi có nhiều cấm kỵ nghiêm ngặt nhất. Khi học trò bước vào tiệm, đầu tiên phải nhặt lấy “vạn kim chi” (nhành vàng), “kim ngân hoa” (hoa vàng hoa bạc) và “kim đấu” (đấu vàng), với ý nghĩa là lấy vàng bạc vậy, hoặc nhặt “bách tử nhân”, vì “bách tử nhân” cũng tương tự như hạt gạo, nhằm để nuôi tác phong làm việc cẩn thận cho bọn học trò học nghề. Trong lời nói bình thường thì thường lấy tên thuốc để lấy cái may. Ví dụ như “liên kiều” để gọi “thái hợp”, “bối mẫu” để gọi “nguyên bảo bối”, “quất lạc” để gọi “phúc lộc”, “trần bì” để gọi “đầu hồng”, “quất hồng” để gọi “đại hồng bào”, cắt thuốc thì gọi là “đuôi hổ”, ghế thuốc thì gọi là “thanh long”; vào mùa xuân thì lấy “đông mộc” khai đao, mùa đông thì lấy “đơn bì” thu đao. Gói thuốc thì phải gói cho có hình như dấu ấn của vàng, vào mùa xuân thì còn phải dùng dây đỏ để buộc. Cấm để những người làm việc chung ngửi thuốc. Trao thuốc thì cấm kỵ chuyền qua tay người khác, vì cho rằng, nếu chuyền qua tay người khác thì sẽ chạm vào khí độc của người ấy. Khi đi hành nghề bán thuốc thì cũng phải có những quy tắc riêng, như khi dân gian đang ăn tết thì kỵ chẩn đoán bệnh, vì sợ chạm phải “khí độc”, trừ phi có hai khoản phí chẩn đoán bệnh để phá tai ách thì mới được. Bình thường, khi đi chẩn đoán bệnh, cũng không được gõ vào cửa của người bệnh, tục có câu “Thầy thuốc gõ cửa, phải mời vào mới xong”. Nhằm để giữ bí mật nghề nghiệp của mình, nên trong dân gian có cách nói đối với những thầy thuốc là “cho thuốc không cho đơn”. Thời xưa, những thầy thuốc rất kính trọng Hoa Đà, Tôn Tư Mạc, xem đó là tổ sư gia, không dám có chút gì bất kính.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGÀNH THỦ CÔNG

Người thời xưa trong tình trạng sản xuất nhỏ, phương pháp làm việc không những rất kém an toàn, hơn nữa, những kiến thức về an toàn cũng khá nghèo nàn, vì vậy, tự nhiên là họ sẽ có những lo lắng đối với sự an toàn của bản thân. Nhằm để cân bằng và thỏa mãn tâm lý, những người trong ngành thủ công nghiệp cũng đã thực hành việc tế tự và những hành vi cấm kỵ.

Do các ngành thủ công trong dân gian là rất khác nhau nên những cấm kỵ trong các ngành cũng mang những nét đặc thù riêng. Trong tất cả các ngành nghề, nghề khai khoáng là một trong những nghề nguy hiểm nhất. Công nhân khai khoáng khi tiến hành đào mỏ thì hệ số an toàn là rất nhỏ, đặc biệt là trong thời gian trước đây, những biện pháp an toàn là rất kém, vì vậy mà sự nguy hiểm đối với sinh mệnh là rất lớn. Vì vậy, công nhân khai khoáng khi ở trên giếng, khi xuống giếng thì kỵ nói đến những lời đại loại như “chết”, “ngạt chết”, “đè chết”, kỵ chửi tục. Bản thân công nhân không được nói, mà cũng không được để người khác nói, khi vợ chồng cãi vả nhau thì cũng không được nói. Công nhân cảm thấy trong lòng mình buồn phiền, hoặc cãi với người khác, thì trong ngày ấy không được phép xuống giếng. Về hành vi, thì công nhân khai khoáng kỵ để người khác đánh vào mũ của anh ta (mũ an toàn), không được ném nón lên mặt đất. Bởi vì chiếc nón là cái bảo vệ phần đầu, cũng chính là biểu trưng và một phần thân thể của đầu. Người ta kỵ để người khác đánh hoặc đùa giỡn đầu mình. Về phương diện ẩm thực, khi công nhân xuống giếng thì kỵ uống rượu, ngửi mùi rượu cũng không được. Khi xuống giếng thì kỵ mang theo diêm quẹt, đây có lẽ là do người ta sợ dưới giếng có khí mêtan (gaz), gặp diêm sẽ bị nổ. Bất kỳ ai cũng không được đốt giấy trên miệng giếng, chỉ vì chỉ có người chết thì mới đốt giấy.

Nếu dưới giếng của mỏ mà có động vật thì đó là điềm tốt, công nhân mỏ than vùng Tây Bắc thì kỵ bắt chuột trong giếng mỏ. Khi công nhân khai khoáng xuống giếng, thì kính chuột như thần, cho dù nghèo nàn đến đâu, ngày ba bữa rau cải không no bụng, nhưng khi ăn cơm ở dưới giếng thì luôn dành một phần cơm và thức ăn cho chuột, cơm thừa ăn không hết cũng không được mang về nhà, mà đổ xuống giếng để mời chuột. Tập quán này có nguyên nhân là do ba loại khí gaz, khí bùn và khí than đều rất nguy hại đối với sức khỏe của con người, mà chuột lại rất nhạy cảm với ba loại khí này, chỉ cần ở những nơi nào không có độc khí thì loại động vật tinh ranh nhỏ bé này sẽ xuất hiện, vì vậy, công nhân khai khoáng một khi nhìn thấy chuột thì đã có ngay một cảm giác an toàn; nếu dưới giếng mỏ mà không thấy chuột chạy qua chạy lại thì sẽ phát sinh ngay một tâm lý vô cùng sợ hãi.

Công nhân khai khoáng kỵ nhất là chuột dời nhà, bởi vì khi xuống mỏ, người ta thường gặp phải những sự cố đáng tiếc như bị sụp đất, mà con người không dễ dàng nhận ra được sự sụp lở theo chu kỳ của áp lực; mà chuột thì rất nhạy cảm, nên khi thấy chuột dời đi từng đàn thì đó là điềm triệu sắp xảy ra sự cố. Những người công nhân sống dưới mỏ từ ngày này sang ngày khác, sau khi đã nắm được quy luật sinh hoạt của chuột thì họ sẽ truyền lại cho những đời sau, và thế là đã hình thành nên những cấm kỵ liên quan đến chuột khi ở dưới giếng mỏ.

Cấm kỵ đối với người làm nghề đồ tể là không được giết lợn vào ngày hợi. Khi giết súc vật, cần phải giết chết bằng một nhát dao, kỵ giết bằng hai nhát dao. Nếu không, người ta xem đó là điềm bất tường, và nó dự báo rằng, sang năm nuôi lợn sẽ không được thịnh vượng. Sau khi chọc dao vào cổ lợn, thì khi quăng dao xuống đất, mũi dao không được hướng về phía cửa chính của người chủ, nếu không, nhà ấy tất sẽ gặp phải chuyện không lành. Khi rạch mổ bụng, không được treo lợn nhằm thẳng về nơi có đặt thần vị, nhằm tránh đắc tội với thần. Sau khi giết lợn xong thì đầu tiên là phải cắt một miếng thịt vuông vức nặng khoảng một hai cân để hiến cho “đại thần nuôi dưỡng”, sau đó con người mới được ăn, nếu không, vào năm sau, gia chủ cho dù có nuôi lợn đi nữa thì cũng không được thuận lợi.

Thợ làm đá thì tin và thờ “Thần đá”. Dân gian ở vùng Trung Nguyên thì xem ngày mùng một tháng giêng là ngày sinh nhật của “Thần đá”. Vào ngày này, bất luận là như thế nào, bất luận là trong tình huống đặc biệt đến thế nào thì cũng không được gõ hay đánh vào đá, nếu không sẽ phải đắc tội với “Thần đá”, “Thần đá” sẽ giáng tội xuống thợ làm đá, khiến làm không ra thành phẩm, làm hỏng vật liệu, thậm chí là sẽ bị bệnh liệt giường trong thời gian dài, không khỏi bệnh được. Trong địa phận vùng Sơn Đông, những người thợ làm đá sẽ lấy ngày mười bảy tháng ba làm ngày sinh nhật cho “Thần đá”. Tục gọi mùng hai tháng hai là ngày “long đài đầu” (đầu rồng), vì vậy, vào ngày này thì thợ làm đá tuyệt đối không được làm bất kỳ việc gì liên quan đến đá, nếu không, sẽ đè phải đầu rồng, gây động đến thân rồng, làm hỏng mắt rồng, Long vương cũng sẽ giáng tai họa xuống thợ làm đá, hoặc là đến những người có hành vi tiếp xúc đến đá.


Thợ làm đá làm nhiều đến thế nào cũng không bằng mài nước. Ngày xưa, trong phòng mài nước có thờ Lão quân, thần Sông và Thần tài, vào ngày mùng hai, mùng ba tháng giêng đều phải đốt đèn, thắp hương, cúng tế, cầu xin thần linh bảo vệ sự bình yên. Bởi vì, con vật được Lão quân cưỡi là con trâu xanh, vì vậy, khi người thợ làm đá đục đẽo mài nước, những người bình thường không được cầm roi đánh ngựa đứng một bên mà nhìn, nếu không, sẽ làm cho con trâu mà Lão quân cưỡi bị giật mình, việc mài nước sẽ không thể nào hoàn thành được. Thợ làm đá khi khoan lỗ thì kỵ đánh búa hụt. Khi đục đá, thì bất kỳ là ai cũng không được mở miệng nói một lời nào, vì cho rằng, mở miệng nói chuyện thì dễ khiến thợ làm đá bị thương, tục quy định rằng, ai nói chuyện mà xảy ra sự cố thì tự mình chịu. Có nơi thì không cho phép nói lớn tiếng. Có nơi còn quy định không cho phụ nữ đi vào trong hang đá và vào miệng hang đá, tục cho rằng, người nữ bước vào thì Sơn thần sẽ nổi giận. Nhiều nơi còn cấm kỵ không được úp chén, tục cho đó là điềm động đá, có nơi sắp sụp. Sau khi thợ làm đá khắc xong bia đá cho người ta, vào buổi sáng ngày dựng bia thì không được nói những lời bất cát bất lợi; vào thời khắc dựng bia cho ổn định thì càng kỵ những người ăn nói bậy bạ. Ngoài ra, theo sự khác biệt của phương ngữ từng nơi mà cũng có những tập tục quy định khác nhau. Vùng Thanh Điền Triết Giang thì kỵ nói chữ “động” (hang), khi vào trong động khoáng vật thì gọi là “tiến tài” (vào tiền), kỵ nói “về nhà”, mà tục phải gọi là “dời hài cỏ?; kỵ nói “rửa” (洗), vì nó hài âm với “chết” (死), vì thế mà đến cả nồi, chén, những người thợ làm đá cũng không rửa, mà chỉ dùng vải để lau sạch.

Thời xưa, việc may áo được xem là chuyện của thần thánh, người ta đã có quan niệm “may áo cầu lành”. Thời xưa, người ta đã có những quy định rõ ràng vào ngày nào không được may áo. Theo những ghi chép của Đôn Hoàng văn hiến: Ngày Thân trong ba tháng mùa xuân không được may áo, may áo vào ngày Dậu trong ba tháng mùa hạ thì sẽ không tốt, đại kỵ may áo vào mùa thu, phàm là vào những ngày sáu, ngày mười sáu, ngày hai mươi tháng tám đều không được may áo. Đại kỵ may áo vào ngày mười tháng mười, nếu may áo vào ngày cuối tháng ba thì sẽ bị cọp vồ, là điều đại hung. Người xưa cho rằng không nên may áo vào ngày kỵ máu.

“Tại sao may áo vào ngày mười tháng mười là điều đại kỵ? Vì đây là ngày sinh nhật của hoàng đế đời Đường là Đường Văn Tông Lý Ngang, nếu động dao kéo may vá trong ngày này thì sẽ bị xem là cử chỉ bất trung, biểu thị cho hành động “?động đao” mưu phản, vì vậy mà người ta liệt việc may áo vào dạng bị cấm kỵ.

May áo có cấm kỵ, và vá áo cũng không ngoại lệ, cho đến nay, dân gian vẫn còn hưng thịnh tập tục “tháng giêng không đụng kim chỉ”. Ngạn ngữ có câu:
Mùng một không kỵ kim, quốc khố trong năm trống
Mùng hai không kỵ kim, thiên hạ trăm họ nghèo
Mùng ba không kỵ kim, góa lẻ càng thịnh dữ
Mùng bốn không kỵ kim, trong triều sinh sự loạn
Mùng năm không kỵ kim, mùng năm tháng năm sấm dậy vang.

Từ ngày mùng một đến ngày mười ba, đều có kiếp số phạm điều cấm kỵ. Tương truyền rằng, tập tục này bắt nguồn từ những năm cuối đời Bắc Tống, do Trương Thiên sư xướng lên nhằm giải cứu những cung nga suốt cả đời mình thêu thùa may vá.

Những kiểu loại của ngành thủ công nghiệp là rất nhiều, và các bộ phận của nó đều có những cấm kỵ riêng. Những cấm kỵ này kết hợp với nội dung và hình thức sản xuất của các ngành nghề khác nhau làm một, cùng cấu thành đặc trưng cho nghề nghiệp. Vỉ thế, người trong nghề hoàn toàn không cho rằng cấm kỵ là điều mê tín, mà xem đó là những phép tắc cần phải tuân thủ nghiêm túc.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGHỀ HÝ KỊCH, GIẢI TRÍ

Nghề hý kịch là một nghề mua vui cho người khác, vào thời xưa, những người theo nghề này thường có thân phận thấp kém, nhằm để sinh tồn và phát triển, những tín ngưỡng thần linh và những cấm kỵ trở nên hết sức nghiêm ngặt và có nhiều khác biệt nhau.

Khi một lầu kịch, một sân khấu kịch, một hội quán, một miếu hậu mới được xây lên, thì vở diễn trên sân khấu diễn xuất đầu tiên đều phải cử hành nghi lễ cúng tế “phá sân khấu”. Nếu như khi diễn kịch mà xảy ra những sự cố lớn nào đó, gây chết người, thì cũng phải phá sân khấu. Người trong nghề hý kịch gọi sân khấu quay về hướng Nam, sân khấu quay về hướng Đông là “Dương đài”, sân khấu quay về hướng Bắc là “Âm đài”, quay về hướng Tây thì gọi là “Bạch Hổ đài”, tục nói rằng: “Nếu muốn phát tài lớn, thì cấm kỵ nhất là Bạch Hổ đài”. Vì vậy, phàm là “Bạch Hổ đài” quay về hướng Tây thì cũng phải “phá đài”, sau đó mới được diễn xuất. Nếu không, tục cho rằng, trong ê-kíp kịch sẽ xảy ra tranh cãi, đánh nhau; hoặc diễn xuất không tốt, diễn võ kịch thì bị thương; thậm chí là không diễn được, sau này sẽ không có ai đến mời đoàn kịch ấy diễn cả.
Ở mỗi trường hợp khác nhau thì hình thức phá đài thường cũng khác nhau. Có trường hợp thì khá đơn giản, chỉ cần treo một chòm râu đỏ lên tường vách phía sau sân khấu, ý cho rằng đó chính là phán quan, sẽ khu tà trừ tai. Thông thương thì vào đêm tối, để một diễn viên có võ diễn vai linh quan, trên sàng diễn, anh ta sẽ truy đuổi con ma nữ do một vai đán thủ diễn, và đuổi ma nữ này đi. Giết một con gà trống, lấy máu gà vảy ra bốn bên sân khấu. Sau đó thì đốt pháo, đánh chiêng đánh trống một hồi, như thế thì được xem là đã phá được đài rồi. Trước khi phá đài thì cấm kỵ đốt đèn phía trước sân khấu, ngay cả đèn dầu được đốt ở đằng sau sân khấu để giúp hóa trang, thì sau khi hóa trang xong cũng phải thổi tắt. Khi “phá đài” thì kỵ để người ngoài nhìn trộm, kỵ nói chuyện. Diễn viên ngậm một cái túi cát màu đỏ chu trong miệng, cho rằng như thế thì có thể tránh tà, tránh được ma quỷ lên người mình.
Việc nhận đồ đệ trong ban kịch phải tuân theo những quy củ rất nghiêm ngặt, thường là khi đoàn kịch dạy nghề thì cấm người khác nhìn trộm. Nghệ nhân cũng không được đùn đẩy trách nhiệm khi lên sân khấu, không được xin nghỉ không ra sân khấu diễn. Cấm kỵ phân nhóm, kết bè phái trong ban kịch. Khi diễn xuất, diễn viên không được nhầm. Khi diễn thì cấm không được đùa giỡn, không được biếng nhác, không được sơ suất, không được làm tổn thương người khác trên sàn diễn, không được cười. Không được “sưu đài”, “tao đài” (tức là cấm không được nhìn ngắm phụ nữ khi đang ở trên sàn diễn). Khi diễn kịch thì cấm kỵ để người học nghề ăn mặc không chuẩn xác, tục có câu: “thà là mặc áo rách, chứ không mặc áo sai”. Ngoài ra, trên phương diện kỹ xảo diễn xướng và đóng vai thì cũng còn có nhiều cấm kỵ khác, đều thuộc về mặt kỹ thuật nghề nghiệp, ví dụ như “khi tịnh đi thì không được thêm mảnh vải màu, khi thiếp đi thì không được để lưng trần, khi sinh đi thì kỵ để rơi râu mồm” (tịnh, thiếp, sinh… đều là những loại vai trong hý kịch cổ điển , người ta thường cho rằng, trong kịch có đến năm loại vai diễn: sinh, đán, tịnh, mạt, sửu, năm vai này điển hình cho năm tính cách khác nhau - TDK). “Kỵ đảo âm hòa vận, kỵ nhả chữ không thật, kỵ lạc giọng do sợ sệt, kỵ phách nhịp không tròn”…
Ở hậu trường, ở phía sau sân khấu thì cũng có nhiều quy ước. Ở phía sau sân khấu thì cấm không được đi lại lung tung, nằm ngồi ngổn ngang, tay chân thái mái, tất cả những khám thờ tổ sư, bàn hương, đạo cụ đều không được làm hư hoại; những rương áo, rương mũ đều được phân loại, không được ngồi tùy tiện. Chỉ có vai sửu (còn gọi là tiểu hoa kiểm) thì có thể ngồi tự do, nhưng cũng bị cấm kỵ không được ngồi lên giữa hai cái rương. Bình thường, mặt nạ được dùng vải lụa phủ lên, không để diễn viên nhìn thấy. Cấm kỵ soi gương khi mang mặt nạ. Diễn viên không được phép ngồi ở cửa miệng Cửu Long, cấm không được gõ bừa vào các khí cụ có tiếng vang như trống đánh, trống nhỏ. Kỵ nói đến những từ không tốt như tản (傘: ô dù), canh (更: canh giờ), mộng (夢: chiêm bao), ở phía sau sân khấu, không được giương ô dù, không được đánh cờ, không được đan tay vào nhau hay ôm đầu gối. Vào ban đêm, kỵ có đi ra mà không quay về. Cấm không được đi ngủ nếu chưa cởi bỏ đồ diễn. Cấm đi tiệm vào ban đêm. Khi đi ngủ, kỵ để mũi giày hướng ra bên ngoài, nếu không, sẽ bị chủ đoàn kịch cho nghỉ làm việc. Trong cuộc sống thường nhật thì cấm không được nuôi bồ câu, nuôi mèo. “Bồ câu” (鴿ge) đồng âm với chữ “gác” (擱gé), e rằng sẽ gây bất lợi cho nghề diễn kịch. Mèo thì ăn thịt chuột, e sẽ gây bất lợi cho chuột. Cấm kỵ gáy nhại theo tiếng gà trống, vì sợ rằng sẽ làm hỏng giọng. Khi ăn cơm, bạn diễn ngồi chung một bàn, không được tự tiện chen vào. Chỉ có vai sửu thì có thể chen vào bàn để ăn. Ăn cơm thì kỵ ăn bánh không nhân, vì cho rằng, nó không có lợi cho đoàn kịch.
Khi diễn tại nhà thì cần chú ý đến những cấm kỵ trong nhà người chủ. Người quản sự sẽ thăm hỏi xem chủ nhà là một nhân vật như thế nào, cấm kỵ những thứ gì, ví dụ như khi vào vương phủ để diễn thì không được mặc đồ màu xanh, vì màu xanh là màu áo của quan lại trong triều đnh. Tên họ, tiểu danh, trác hiệu và cả những chữ mà ông ấy không thích thì cũng không được nói. Gặp khi người ta làm lễ mừng thọ, thì những chữ bất cát bất lợi như “giết”, “chết”, “róc” thì càng phải kiêng tránh. Khi diễn đến đoạn văn xướng mà có những chữ này thì có thể bỏ (hoặc đổi), nếu quả thực tránh không được nữa thì phải cắt bỏ cả một đoạn ấy.
Diễn kịch cũng phải hạn định trong một khoảng thời gian và ở một nơi nhất định. Ở Hà Nam, người ta kỵ diễn vào ngày hắc đạo, mà phải vào ngày hoàng đạo. Ở một số nơi khác còn quy định không được diễn vào tháng nào đó, hoặc vào tháng hai, tháng tám, hoặc vào tháng ba, tháng bảy. Nghe người ta bảo rằng, vào thời gian ấy mà động đến những đồ phát ra tiếng kêu (tức minh khí) thì sẽ mạo phạm đến thiên thần, sẽ gặp phải hung họa, như mưa đá chẳng hạn.
Có một số vai trong kịch bản, theo truyền thuyết thì chính là một người ở nơi nào đó, vì vậy mà, nếu diễn vai ấy ở ngay trên vùng đất ấy thì cần phải chú ý, không được diễn những hý khúc làm thương hại đến tình cảm quần chúng nhân dân. Như trong “Thanh bái loại sao” có nói, vùng Tây Bắc huyện Dương Cốc, Duẫn Châu có mộ, tục gọi là mả cửa tây, theo truyền thuyết thì đó chính là nơi chôn cất của Tây Môn Khánh. Ở vùng này, người ta đều có tục cấm diễn vở “Thủy Hử truyện”; ở nơi nào đó thuộc Đơn Giang Hồ Bắc, truyền thuyết cho đó là quê hương của Trần Thế Mỹ, vì vậy mà ở đây, người ta cấm không được diễn vở “Trác Mỹ án”; ngoài ra, có nơi được xem là quê hương của Quan công thì cấm diễn “Tẩu Mạch thành”; ở Nam Kinh thì cấm diễn vở “Thủ Kim Lăng”…, đều thuộc vào dạng cấm kỵ này. Khi đi diễn, thì không được diễn “Ngũ Lôi trận”, vì cho rằng, Tôn Tẫn là tổ sư của nghề giày dép, nếu trong vở diễn mà có tình tiết Tôn Tẫn bị vây khốn trong Ngũ Lôi trận thì tất sẽ làm thương tổn đến tình cảm của những người theo nghề làm giày dép.
Thời xưa, nghề diễn kịch bị xem là nghề hạ tiện, vì chuyên môn chiều theo thú vui của con người ta. Đời Nguyên, Minh, Thanh, những nghệ nhân này bị cấm không được ứng thí trong chế độ khoa cử.



:

越南道教 - 道教神仙 - 越南道士 Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam

nguồn: thantienvietnam



Share:

Phong Tục Lễ Cúng Tổ Tiên Cổ Đại Ngàn Xưa bài 3

Đạo Thờ Cúng Tổ Tiên Và Những Điều Cấm Kỵ Trong Nhân Gian Cổ Đại Bài 3 - 越南道教道士 - 越南道士


Đạo Thờ Cúng Tổ Tiên Và Những Điều Cấm Kỵ Trong Nhân Gian Cổ Đại

Bài 3
 tho_cung_to_tien_15-280913_copy.jpg

越南道教 - 道教神仙 - 越南道士 Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam

越南道教道士 - 越南道士

NHỮNG CẤM KỴ ĐỐI VỚI THỰC VẬT
Thời xưa, ở vùng đất Trung Nguyên, dân gian cho rằng cây cối là nơi tàng trú của ma. Vì vậy mà người ta kiêng kỵ không cắt cỏ trên nấm mộ. Bình thường, người Ngoã cấm kỵ mang gừng, lá chuối, lá hồng mao, lá cây mật hoa, lá cây trà núi đem về nhà, bởi vì những thứ này đều là đồ dùng của ma quỷ. Ở một vùng đất chạy suốt từ Hà Nam đến Hồ Bắc, người ta kiêng kỵ không dùng cỏ lót giường để làm nhiên liệu đốt, vì chỉ có thể đốt cỏ lót dưới đệm của người chết, vì vậy mà người ta cho rằng đốt cỏ lót dưới đệm giường là điều không lành. Ở Phương nam, người ta kiêng không đốt là chuối già. Vì người ta nói rằng, sự liên kết của chuối già là rất chắc, nếu đốt đi thì sẽ bị tuyệt tự, chí ít là sẽ ảnh hưởng đến sự phồn vinh của con cháu. Khi trồng chuối già, thì kỵ không để bóng người chiếu vào trong lỗ đất. Dân gian còn tin rằng cỏ hoang là thứ không lành. Người ta cho rằng, cỏ mọc có dáng hình người thì yêu tà sẽ hưng thịnh, đó là điềm của chiến tranh.
Dân gian tin rằng, cây cối thường là nơi mà thần linh ẩn tàng. Thời xưa, các tộc người Nỗ, người Ngoã, người Di, người Thái, người Chuang, người Hani, người Miêu, người Phổ Mễ, người Bố Y, người Bố Lãng, người Cảnh Pha, người Nạp Tây… đều có tập tục cúng tế thần rừng. Thần rừng thường ẩn tàng ở những rừng cây được cúng tế. Tục cho rằng, nơi ở của thần linh thì thánh thần không được xâm phạm. Cấm chặt phá, săn bắn, đặc biệt là đại tiểu tiện nơi này, nếu không thì sẽ xảy ra tai hoạ. Tộc người Hani, người Di, người Khổ Thông đều có tập tục “tế rồng”, cũng tức là “tế cây rồng”, “tế rừng rồng”. Bởi vì thông thường, người ta cúng tế vào ngày Thìn nào đó trong mùa xuân, vì vậy mới gọi là “tế rồng”. Bình thường thì không ai được đến gần rừng rồng, cũng không được bước vào rừng rồng. Thai phụ, sản phụ, những phụ nữ đang kỳ kinh nguyệt lại càng không được vào, cũng không được thả trâu, ngựa vào nơi này. Không được tự tiện động chạm đến cây cối, hoa cỏ, đất đá trong rừng rồng, càng không được chặt phá, làm tổn thương cành cây và lá cây của rừng rồng. Nếu không, người ta cho rằng sẽ mạo phạm đến Long thần, đó là điều dự báo không lành.
Đối với những cây đơn độc, nếu nó cao vút, to lớn và già cỗi, thì người ta thường cho rằng nó có linh tính, là nơi dừng chân của thần tiên, vì thế mà cũng thường bị cấm không cho chặt phá. Đặc biệt là cây cối gần ở miếu thần, nếu như chưa tế thần, chưa van vái trước, thì tuyệt đối cũng không được chặt. Người phương Nam cho rằng, bất kỳ một sự vật nào đó khi trải qua một thời gian dài đều sẽ thành tinh, vì vậy mà thường cho rằng trong cây hòe già, liễu già, cây đa già đều có ma mị tinh linh, vì thế không những không dám chặt mà còn đốt hương cúng vái. Đối với những cây đơn độc, người Ha Tác Khắc cũng rất sợ hãi vì cho rằng trong cây có ẩn tàng quỷ thần. Họ không dám nghỉ ngơi ở dưới cây, càng kiêng kỵ không chặt lấy nhánh cây của loài cây này. Nếu như có người bị bệnh, người ta bèn cho rằng đó là do quỷ thần trong cây làm sùng, cần phải treo một ít vải màu lên cây, để cầu xin quỷ thần dung thứ.
Người Dao cho rằng, trong cây cổ thụ thì có thần, vì vậy mà cấm kỵ không để chân đạp đến cây hay bẻ nhành cây. Truyền thuyết của người Băng Long kể rằng, khi Tiên bay đến thì đầu tiên sẽ dừng lại trên cây đại thụ, sau đó mới được mời vào trong Miếu, vì thế mà người ta xem cây đại thụ là thần thánh, cấm kỵ không được chặt phá. Người Di gọi cây đại thụ lớn nhất là “thụ vương” (vua của cây). Có nơi còn cho rằng, thụ vương còn qui định ngày sinh nhật. Trong ngày sinh nhật của thụ vương, không được chặt củi, không được cắt cỏ, cũng không được nói tiếng Hán. Đối với tôc người Bố Lãng, nếu như cây đè chết người, thì người ta cho rằng “địa quỉ” không thích, nơi ấy không tốt, cần phải đến nơi khác mà chặt. Nếu như khi trở về nhà mà người chặt cây bị bệnh, thì người ta cũng cho rằng đó là do “sơn lâm quỷ” (ma rừng rú) tác quái, tinh linh đã dính vào người. Lúc này, cần phải làm một bàn cơm thịt, mời thầy vu thuật (pháp sư) đến để đuổi ma. Thầy vu thuật sẽ mang quần áo của người bệnh đến gần cây đại thụ đã chặt ngã để làm nghi thức cầu khấn và sẽ nói lời thỉnh tội thay cho người ấy.
Người phương Nam ở một vùng đất huyện Dư Hàng tỉnh Chiết Giang, từ thời xưa đã lưu truyền về phong tục trồng cây đồng linh. Sau khi trẻ được sinh ra, người ta sẽ trồng một cây tỳ bà ở một góc đầu sân nhà, gọi là “trồng cây đồng linh” (同齡: tức trồng cây cùng tuổi). Tục tin rằng cây đồng linh có một mối quan hệ liên đới nào đó với sự trưởng thành của trẻ và vận mệnh của nó sau này. Người ta thường cho rằng người và cây giao cảm với nhau, tức là sự tươi tốt hay khô héo, mạnh khỏe hay suy yếu đều cảm ứng với nhau. Người trong nhà ấy phải chăm chút vun đắp cho cây một cách cẩn thận, cầu mong cho nó mọc mầm mau lớn, cành lá sum xuê, quả sai nhúc nhỉu và kiêng kỵ để cây đồng linh chết yểu hay bị hủy hoại. Nếu không người ta cho rằng nó sẽ gây ra sự bất lợi cho người cùng tuổi với nó.

Ở vùng Hồ Bắc, dân gian thời xưa kiêng kỵ cây táo mọc đôi, tức là hai cây hợp sinh thành một. Theo niềm tin dân gian, nếu như vậy tất sẽ có vạ trộm cướp.

Bởi vì con người có một cảm giác thần bí nào đó đối với cây cối, vì vậy, khi sử dụng nó người ta cũng có một vài cấm kỵ. Người Ngoã kỵ dùng cây tươi để cắm vào hố nước. Nếu không người ta cho rằng tai sẽ bị điếc. Người phươngNam có tập tục kỵ dùng gỗ cây đa để làm quan tài. Người ta nói rằng, sở dĩ như vậy là vì chất gỗ của cây đa rất cứng chắc, mà thớ gỗ lại không thuận, tục có câu rằng “nốt sần trên cây đa không khai khiếu”, nên sợ rằng đứa con được sinh ra sẽ không thông minh hiểu biết; người khác lại bảo rằng đó là do lá cây đa, vỏ cây đa đều có thể ăn được, dễ bị mối mọt ăn, vì vậy mà dân gian thường không dùng loại cây này để làm quan tài. Ở Hà Nam, người ta còn kỵ không dùng gỗ cây táo để làm cửa sổ. Tục cho rằng táo có gai, mà gai thì giống như đinh, e rằng sau này trong nhà sẽ gặp nhiều chuyên rắc rối, sẽ bị đạp đinh (碰釘子: tức gặp điều bất trắc, xui rủi). Khi dựng nhà thì kỵ không dùng gỗ cây xoan để làm rường cột, bởi vì “cây xoan” (楝 liàn) lại hai âm với chữ “liễm”(殮liàn: tẩm liệm), e rằng sẽ gặp điều không tốt. Khi làm giường cũng kỵ dùng chân trống mà thích dùng chân mái, đó là do phản ứng tâm lý xem trọng đường con cái, e rằng sẽ không sinh sản được. Người Đạt Oát Nhĩ thì kỵ dùng cây bạch hoa để xây nhà và làm bánh lái gỗ. Người Ngoã thậm chí còn kỵ không đem những cây gỗ chưa khô vào nhà. Phụ nữ người Ngạc Ôn Khắc thì không được đốt gỗ mục, càng không được đốt một loại cây có tên gọi là “Cam Na Cách Dã”. Người ta bảo rằng, đây là loại cây rất hiếm thấy, nó là gỗ chuyên dùng để tạc tượng thần linh.


Do người ta tin rằng giữa cây và quỷ thần có một mối quan hệ mật thiết nào đó, nên từ đời xưa đã lưu truyền tập tục này, tức là an ủi hồn phách người chết ngay ở cây được trồng trên mộ. Người ta tin rằng, cây tùng và cây bách trồng trên mộ có thể bảo vệ cho thi thể không bị những loài dã thú ăn mất, và có thể khiến cho di thể không bị mục nát. Cây tùng cây bách trồng ở phần đất mộ xanh tươi quanh năm thì cũng có ích cho vong hồn của người chết, vì thế, nếu như có ai đó đến hủy hoại cây trồng trên mộ của nhà nhà người ta thì nhất định đã phạm vào điều cấm kỵ.

Các tộc người như người phương Nam, tộc Ngoã đều có tập tục kỵ không dùng ngón tay chỉ vào nụ hoa của cây bông, không chỉ vào nhụy hoa của dưa cải. Người ta cho rằng, nếu dùng ngón tay chỉ vào thì hoa sẽ bị rụng, khó đậu quả, dưa cũng không kết quả được. Khi bắp ngô trổ bông mà gặp gió lớn thì người Túc Lật cấm không cho phụ nữ dệt vải và đàn ông không được chặt cây tre. Khi lúa đơm bông, cũng cấm không được giặt đồ hoặc bóc đậu mè. Nếu như phạm vào cấm kỵ, thì người ta cho rằng sẽ khiến cho hoa bị hoảng sợ dẫn đến giảm năng suất sinh sản.

Trong sản xuất lâu dài, trong thực tiễn sinh hoạt, mọi người đều biết rằng thực vật trổ bông theo mùa màng, thông thường là hoa nở vào mùa xuân. Nếu như hoa nở vào mùa đông, khi mà tuyết rơi đầy thì đó là một hiện tượngbất thường. Người ta sẽ luôn cho rằng, đó là một điềm xấu, gọi đó là “cây nở vào mùa đông là điềm triệu của năm mất mùa”, hoặc cho rằng đó là điềm suy bại của gia vận, của thế vận.

Khi lúa trổ bông, tộc Thủy cấm kỵ việc đốt sọt tre. Nghe bảo rằng, nếu làm như thế thì thu hoạch sẽ không được bao nhiêu, vì có lẽ là họ liên tưởng đến vật chứa đựng đã bị hủy rồi thì thần lúa sẽ không vui khi ban tặng thóc lúa cho con người.

Khi thu hoạch lúa, người Khắc Mộc ở Vân Nam cần phải cắt lúa bằng cả hai tay, cấm dùng gậy đánh, dùng chân đạp. Tục này cho rằng, thóc lúa có ơn nuôi dưỡng con người, nên con người không thể bạc đãi với nó được. Nếu như dùng gậy để đập, dùng chân để đạp lên, thì sẽ làm tổn thương thần lúa, và do vậy mà sẽ bị báo ứng.

Trong vụ thu hoạch mùa màng, nhất là trong bãi đập thóc thì cấm nói những lời bất cát bất lợi. Những người mê tín cho rằng, nếu nói năng không cẩn trọng sẽ đắc tội với thần lúa, sẽ khiến cho thóc lúa đã được đập ở bãi đập lại bị mất đi. Đối với những loại ngũ cốc đã được thu hoạch thì phải nhặt và đập một cách tỷ mỷ, không được vứt ném lãng phí, nếu không thần lúa sẽ trách tội. Người phương Nam, người Phổ Mễ đều có tín
 ngưỡng về thần thóc lúa như thế.
 tho_cung_to_tien_5-280913.jpg


越南道教 - 道教神仙 - 越南道士 Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam


NHỮNG CẤM KỴ ĐỐI VỚI CÁC THIÊN THỂ



Mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú đều là những hiện thân của ánh sáng, có quan hệ mật thiết với cuộc sống của con người, và chúng cũng đã mang đến sự suy đoán và tưởng tượng cho con người. Thời cổ đại, đã có cúng tế đối với mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú. Thời xưa, trong dân gian còn có rất nhiều câu chuyện thần thoại, truyền thuyết về các thiên thể trong vũ trụ. Trong cuộc sống, sự nương tựa của người xưa đối với mặt trời, mặt trăng và các vì sao là điều rất dễ dàng nhận ra.

Theo “toàn quốc phong tục chí” thì, ở một dãy đất vùng Hà Bắc, Thiên Tân, người ta
có phong tục tiếp đón mặt trời. “Tối ngày tám tháng sáu hàng năm, mọi người đều ở trong
miếu, cồng trống vang trời, khá là náo nhiệt. Tất cả phụ nữ lớn tuổi trong thôn trang đều tụ tập lại, vào lúc tối thì trú ở trong miếu, niệm kinh cầu Tiên, mãi đến khi trời sắp sáng. Người ta bày án cúng, châm nến, đốt hương, hướng về hướng đông mà cúng tế, đợi đến khi mặt trời ló dạng mới thôi. Nếu như đó là ngày trời quang đãng, mặt trời nhô lên trong buổi sáng yên lành, thì người ta sẽ rất vui mừng, ngược lại, nếu như trời âm u, thì họ cho rằng đó là điềm bất cát, là điềm dị thường chỉ về sự tang tóc”. Vào thuở ban đầu, người ta hoàn toàn không biết gì về quy luật vận hành của các thiên thể trong vũ trụ, sợ rằng mặt trời sau khi lặn thì sẽ không mọc lại nữa, vì vậy mà phải cúng tế, phải tiếp đón mặt trời, đồng thời kiêng kỵ khi tiếp đón mặt trời mà trời thì lại âm u. Cho đến ngày nay, hiện tượng nhật thực và nguyệt thực trên các vùng đất khác nhau cũng đều thể hiện điểm này. Theo ghi nhận của “Phong tục thông nghĩa” thì: “Tục nói rằng, khi mặt trời mặt trăng bị ăn mà ăn uống thì sẽ khiến người ấy bị lở miệng”.“Khi mặt trời bị ăn, thiên tử không được cử nhạc”. Lời quê nói rằng: “Nếu không cầu xin trước nhật thực nguyệt thực, khi đi đường sẽ bị gặp mưa”. Tức có nghĩa là, khi mặt trời hay mặt trăng bị ăn thì không được ăn uống, không được cử nhạc, đồng thời cũng phải cầu xin cúng vái vậy.

Thời xưa, những Nho sĩ còn quy kết hiện tượng nhật thực nguyệt thực là do đạo đức, lễ nghĩa của nam nữ không được chỉnh sửa nên đã gây ra họa vậy. Trong “Lễ ký, Hôn nghĩa” có viết: “Do nam nữ không được giáo dưỡng, dương sự không thành, nên nhìn lên trời khiến mặt trời bị ăn mòn đi. Phụ nữ không thuận tòng, âm sự bất thành, lại nhìn lên trời, khiến trăng bị ăn mòn đi”. Trong dân gian còn có câu chuyện cho rằng hiện tượng nhật thực nguyệt thực là do con thiên cẩu (chó trời) nuốt mất. Bị ăn hoàn toàn rồi lại khôi phục lại ánh sáng thì được gọi là đã ị ra, tục cho như thế là không tốt, là điềm triệu của năm mất mùa; khi ăn không hoàn toàn và phục hồi lại ánh sáng thì được gọi là ăn không hết và ói ra, như thế là tốt, là điềm triệu của năm bội thu. Vì vậy, nếu gặp lúc mặt trời mặt trăng bị ăn thì người người đều gõ chiêng đánh trống, gõ nồi đánh mõ để khiến thiên cẩu bị kinh sợ, và thế là cứu được mặt trăng mặt trời.

Các tộc người có ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Altai ở phương Bắc thì rất phổ biến việc sùng bái mặt trời và mặt trăng. Người Ha Tát Khắc cấm kỵ không được quay mặt về hướng mặt trời mà đại tiểu tiện, vì cho rằng, đó là một hành vi hết sức bất kính. Dân gian thường cho rằng mặt trời có một ma lực đuổi được tất cả các loại ma mị. Nhưng khi mặt trời xuống núi, thì quỷ sùng sẽ lộng hành trở lại. Vì vậy, dân gian có rất nhiều cấm kỵ sau khi mặt trời lặn xuống núi. Các tộc người như người phương Nam, người Hani đều cấm không được quét nhà sau khi trời đã khuất sau dãy núi, vì cho rằng nếu quét nhà vào lúc này thì sẽ đẩy thần tài và các thiện thần khác ra khỏi cửa. Ban đêm, các hung quỷ, ác thần ở bên ngoài thì đầy rẫy, nếu như nhỡ quét thần tài và các thiện thần khác ra khỏi cửa thì họ sẽ không bao giờ quay lại nữa. Vì vậy mà người nhà ấy sẽ bị suy vi, khó mà hưng thịnh lại được nữa.

Người Phương Nam còn cấm kỵ đi thăm người bệnh vào lúc mặt trời đã lặn (ở một vài nơi còn cấm kỵ vào lúc trời xế chiều hoặc khi nhá nhem tối). Vì cho rằng dương khí của người bệnh rất yếu, nếu thăm người bệnh vào lúc ban ngày trời sáng (tốt nhất là vào buổi sáng) thì có thể mang dương khí của mặt trời đến cho người bệnh, khiến tinh thần của người ấy được phấn chấn lên; ngược lại, nếu đi thăm vào buổi tối, âm khí nặng nề, càng không có lợi gì đối với người bệnh. Trong đêm khuya, còn kỵ không trả lời tiếng kêu của người khác, e rằng sẽ trúng vào cái bẫy của ma mị, sẽ bị chúng bắt đi chân hồn của mình. Ở một dãy vùng đất Phương nam, người ta còn cấm kỵ không cho gội đầu, hái hoa, huýt sáo, thổi sáo, dùng kim chỉ v.v. vào lúc trời tối, những cấm kỵ này đều có quan hệ với tín ngưỡng sùng bái mặt trời. Người ta sợ nhất là phải ở trong tình thế không có ánh mặt trời, vì sợ sẽ chạm đến ma quỷ, gây ra nhiều chuyện hung họa.

Trong tập tục tế mặt trăng vào ngày mười lăm tháng tám âm lịch của người phương Nam và của một số tộc người khác, người ta cũng có một loại nghi thức sùng bái đối với mặt trăng. Xưa có câu nói rằng “nam không bái mặt trăng, nữ không tế ông táo”, đó là vì người ta cho rằng, mặt trăng là thần mang tính nữ, nếu để đàn ông bái lạy mặt trăng thì sẽ làm ô trọc thần mặt trăng.

Những điều mê tín về tinh tú cũng rất được phổ biến. Dân gian cho rằng, tinh tú trên bầu trời là có sự đối ứng với từng con người, gọi là “mỗi vì sao trên trời, là một người dưới đất”. Khi ở dưới mặt đất có một người được sinh ra thì trên trời cũng tăng thêm một vì tinh tú; trên trời có một vì sao tịch lạc thì dưới đất cũng sẽ có một người tử vong. Nếu vì sao sáng trên bầu trời mà vụt tắt thì người ta cho rằng ở dưới đất cũng sẽ có một vị đại tướng, một danh nhân hoặc một nhân vật hiển hách tử vong, thậm chí, đó là điềm triệu chỉ hoàng đế băng hà, chỉ quốc gia gặp nạn v.v.

Ở một số nơi, người ta cấm kỵ không được nhổ nước bọt khi có sao băng hoặc có cầu vồng. Bình thường, người ta kỵ không được dùng tay chỉ vào mặt trời, mặt trăng, đó cũng chính là tập tục cấm kỵ trong tộc người phương Nam và trong nhiều tộc người khác. Tục cho rằng, dùng tay chỉ vào mặt trời, mặt trăng là hành vi bất kính, sẽ mạo phạm đến thiên thần. Thần sao, thần mặt trăng vì thế mà sẽ giáng họa xuống người, nhẹ thì cắt tai người ấy, hoặc khiến cho mồm miệng bị lở thối, nặng thì sẽ khiến người ấy gặp tai họa vong thân. Thời xưa, người ta còn lưu truyền rất nhiều câu nói liên quan đến điềm triệu từ các vì sao, như “bốn sao tụ lại là điềm không lành, năm sao chụm lại là điều tốt đẹp”, “Thái Bạch qua trời, nhìn thấy ban ngày là nạn yêu ma”; “mặt trời hướng thẳng vào sao Thiên Đức, Thiên Ân, Nguyệt Đức thì đó là điềm tốt, nếu gặp sao Thiên Ngục, Thiên Hỏa, Thổ Ôn thì đó là điềm hung”.

Mê tín về tinh tướng được phổ biến nhất là việc người ta cho rằng sự xuất hiện của Tuệ tinh sẽ mang điều hung đến cho con người. Dân gian còn gọi Tuệ tinh là sao chổi, người xưa cho rằng đó là sao yêu. “Chiêm kinh”bảo rằng: “Tuệ tinh xuất hiện ở hướng đông thì tất có quân cướp, hạn hán”. Dân gian vì thế mà lưu truyền rộng rãi kiểu quan niệm cho rằng mỗi khi sao chổi xuất hiện thì đó là điềm triệu của mất mùa, bệnh dịch, chết chóc hoặc chiến tranh. Ngoài ra, điềm triệu của Thiên hà (Ngân hà) cũng là một loại mê tín của tinh tướng. Thời xưa, vùng Giang Nam có câu chuyện về chàng Ngưu ả Chức gặp nhau vào đêm mồng bảy tháng bảy, người ta có tập tục là nhìn vào Thiên hà để bói xem giá tiền của gạo mắc rẻ ra sao. Tục cho rằng, nếu nó mà sáng thì gạo rẻ, nếu nó mà tối thì gạo mắc. Nếu gạo mắc thì năm đó sẽ không tốt, vì vậy mà người ta cũng kiêng kỵ nó.

NHỮNG CẤM KỴ ĐỐI VỚI KHÍ TƯỢNG, THỜI TIẾT

Khí tượng, thời tiết luôn thiên hình vạn trạng, biến chuyển khôn lường, từ xưa đến nay, nó là một thực thể mà dân gian cảm thấy thần bí, khó dò nhất. Trong dân gian, người ta cho rằng hướng gió ở vào một thời khắc nào đó thì nó đều có năng lực dự báo.
Ở vùng Giang Tô vào mùng một tháng giêng, người ta có tập tục nhìn hướng gió vào buổi sáng khi vừa thức dậy để bói xem chuyện nông tang như thế nào, người ta cho rằng, nếu hướng gió vào lúc ấy là theo hướng Đông Bắc thì đó là điềm tốt, còn hướng Tây Bắc thì đó là điềm xấu. Người ta kỵ gió hướng Nam, tục cho rằng gió nam là chủ về hạn hán, và cũng kỵ gió hướng Đông Nam vào mùa hè, vì nó cũng chủ về hạn hán. Ở khu vực Sùng Minh, người ta kỵ có gió Tây Bắc hoặc gió Đông Bắc nổi lên vào ngày có sương trắng, người ta cho rằng, như thế sẽ không có lợi cho việc cây bông ra hoa. Thời xưa, trong sản xuất nông nghiệp thì còn có cách nói “Gió ở tám hướng, chỉ có gió tốn (tức gió Đông Nam) là tốt, cái còn lại đều xấu cả”.
Do hình thù của cơn gió lốc là rất kỳ quái, người ta cho rằng, nó thuộc vào dạng hiện tượng quái dị, vì vậy mà cũng có một vài kiêng kỵ đối với nó. Tục cho rằng, gió lốc là loại gió do quỷ đi trên đường tạo ra, người ta ai mà gặp phải thì sẽ không hay. Nếu như gặp phải thì cần dùng các cách để đánh đuổi nó như nguyền rủa, thóa mạ, dùng vật đánh nó… để giải trừ tai tạn. Những lời nguyền rủa, khẩu quyết thường là “gió lốc gió lốc mày là quỷ ma, tao có dao sắc chặt đứt chân mày”…

Dân gian tin rằng, ánh chớp là do thần lôi công tạo ra. Trong thời tiết mà đáng ra không có chớp, nhưng lại có sấm vang chớp giật, thì người ta cho rằng, đó là điềm triệu báo trước rằng sẽ có tai họa sắp giáng xuống. Ngườiphương Nam, người Dao đều kỵ tiếng sấm vào tháng giêng, tháng hai. Đến tháng mười, cũng là lúc lập đông thì người ta cũng kỵ nghe thấy tiếng sấm, vì vậy mà trong dân gian cũng có câu tục ngữ kỵ tiếng sấm tháng mười, ví dụ như người Hà Bắc có câu “sấm vào tháng mười thì lấy bồ cào mà đẩy người chết”, có nghĩa nếu có sấm vang vào tháng mười thì năm tới ắt có bệnh dịch khủng khiếp hoành hành.

Ở vùng Giang Tô cũng có cách nói kỵ tiếng sấm vào mùa thu, gọi là “mùa thu sấm ù ù, lượm thóc lép”, tức là nói rằng, tiếng sấm vào tiết lập thu là chủ về cái vỏ ngoài mà không có bên trong, vì thế nên người ta mới kỵ nó. Người dân vùng Quảng Tây cũng có cách nói tương tự “sấm mùa thu, lúa muộn thu được nửa phần”. Ở vùng Hà Nam, người ta kỵ tiếng sấm vào tháng chín. Tục ngữ có câu: “Tháng chín lôi công đi đánh, sang xuân một năm hạn tám tháng”, vì cho rằng nếu sấm vang vào tháng chín thì năm sau đó sẽ gặp đại hạn.

Do sợ sấm, nên người Bố Y, người Thủy còn có tập tục cấm kỵ không sản xuất khi trời có sấm. Bắt đầu từ tiếng sấm đầu tiên vào mỗi năm, người ta quy định là không được trồng trọt nữa, mãi cho đến khi gieo mạ, hoặc đến khi lúa nước đã lớn đến một độ cao nhất định thì mới thôi. Trong thời gian có tiếng sấm, kỵ được không cày ruộng, vỡ đất, gieo trồng.

Nước mưa có quan hệ rất quan trọng đối với con người và mùa màng, người ta cho rằng, lượng nước mưa nhiều hay ít đều là do thiên thần quản hạt. Vì vậy mà người ta có tập tục cầu đảo thần mưa (tức Long Vương gia), cầu mưa. Thời xưa, phần nhiều các khu vực đều có cái ăn là nhờ vào trời cả, nên vào những ngày quan trọng trong giai đoạn trưởng thành của cây nông nghiệp, người ta kỵ mưa hoặc kỵ không có mưa. Ví dụ, ở dãy đất huyện Lộc Ấp, Hà Nam, tục có câu “Tháng ba sợ mùng bảy, tháng tư sợ mùng một. Mùng một, mười lăm đều không sợ, chỉ sợ mưa ngày mười hai tháng mười”. Giang Tô cũng có câu “Tiểu mạch không sợ người cùng ma, chỉ sợ mưa đêm mùng tám tháng tư”. Từ đây, ta có thể biết được rằng, những khu vực này cùng với lúa tiểu mạch đều kỵ mưa nhiều vào tháng tư. Ở vùng đất Giang Tô, ngày hai mươi tháng bảy được xem là ngày cây bông ra hoa, ngạn ngữ địa phương nói rằng: “Mưa rơi hai mươi tháng bảy, cây bông không lên tiệm”. Đối với nông nghiệp, phần nhiều những ngày quan trọng đều kỵ mưa (hoặc kỵ không có mưa). Như người vùng Hà Nam thì kỵ không có mưa vào ngày lập hạ, tục nói rằng: “lập hạ trời không mưa, lưỡi cày treo không động”, có nghĩa là nếu lập xuân mà trời không mưa thì đó là điềm triệu của một năm xấu. Nhưng vào đêm lập thu thì kỵ mưa. Người Giang Tô thì kỵ mưa nơi mặt trời đang nắng, ngạn ngữ có câu: “Nơi nắng mà trời lại mưa, tuy đậu được quả nhưng không thu được gì”. Lại kỵ trời mưa vào ngày có sương trắng, tục có câu: “Trước sương trắng là mưa, sau sương trắng là quỷ”. Những tập tục kiêng kỵ về mưa ở các khu vực khác nhau thì cũng không giống nhau, nhưng nhìn chung, đại đa số là có quan hệ với việc canh nông.

Trong mắt của những người mê tín, thì cầu vồng mọc sau cơn mưa cũng được xem là sự hiển hiện của ý trời, là điềm triệu của thần linh. Người Ngạc Luân Xuân, người phương Nam đều cấm kỵ không được dùng tay chi trỏ lên cầu vồng, sợ là sẽ mạo phạm đến thiên thần. Khi cầu vồng mọc ở phương Namvà phương Bắc thì dân gian còn cho rằng, đó là điềm tượng trưng cho tai nạn. Tục ngữ có câu: “Cầu vồng hướng Đông thì sấm, cầu vồng hướng Tây thì mưa, cầu vồng hướng Nam thì nước lụt, cầu vồng hướng Bắc thì bán con”.

Nước là một nguồn tài nguyên thiên nhiên mà tính chất quan trọng của nó đối với con người là rất rõ và dễ thấy. Hầu hết các dân tộc đều cho rằng, nước có khả năng ẩn tàng quỷ quái trong nó. Người Bố Lãng còn cho rằng, nước được con ma nước quản lý, mà người Bố Lãng thì rất kỵ con ma nước, vì vậy mà cấm kỵ không dẫn nước vào trong trại. Họ cho rằng chỉ có cách làm như thế thì mới có thể cách ly được với con ma nước, đảm bảo được sự bình yên cho trang trại. Đối với những hồ nước tự nhiên thì tộc người Bạch cũng rất mê tín, họ cho rằng có Long thần cư ngụ ở trong ấy. Ở những hồ nước ấy thì cấm không để súc vật đến uống; cấm không để trẻ em đến đó tắm; cấm không cho phụ nữ đến đó giặt đồ. Khi có người bị bệnh, thì người ta cho rằng đó là do xúc phạm đến Long thần ở trong nước, cần phải giết cừu, giết gà, đem đến bên hồ để cúng tế Long thần. Người Hồi rất chú trọng đến sự sạch sẽ của nước, cấm kỵ để người ngoài dùng đồ chứa nước mà không được sạch đến lấy nước trong giếng nước, khạp nước của người Hồi.

Khi hạn hán, người tộc Thủy cấm kỵ không được gánh nước ngâm mạ, vì họ cho rằng, nếu như thế thì sẽ làm trái với ý trời. Thời xưa, bất luận là hạn hán như thế nào đi nữa thì cũng cấm kỵ không được đào giếng, sửa cống, dẫn nước vào để tưới ruộng, vì cho rằng, làm như thế sẽ làm đứt long mạch, phá thế phong thủy, sẽ mang tai họa đến.

Từ xưa, dân gian đã xem lửa là thần thánh. Trong tộc người phương Namvà rất nhiều các tộc người khác, cho đến nay, họ vẫn còn nghi thức sùng bái Hỏa thần. Người Ngạc Ôn Khắc thì cho rằng, chủ nhân của lửa chính là thần, và chủ của lửa trong mỗi hộ gia đình chính là tổ tiên của họ. Mỗi nhà mỗi hộ đều phải giữ mồi lửa cẩn thận, ngay cả khi di dời nó thì cũng không được phép làm nó tắt đi. Một khi mồi lửa bị tắt thì nó cũng mang ý nghĩa là nhà ấy cũng bị đứt gốc. Vào mùa thu của mỗi năm, cần phải tế lửa, mà người phụ nữ là người chủ tế. Khi tế lửa, thì cấm kỵ không dùng đồ sắt, gậy gỗ để nhóm lửa, không được bới tro, vứt tro, cấm kỵ quét dọn trong phòng. Cô dâu khi đến nhà chồng thì đầu tiên là phải bái thần lửa của nhà chồng. Chỉ khi tự mình giới thiệu với lửa, thì sau đó mới có thể trở thành một thành viên trong gia đình ấy. Bình thường, người ta cũng cấm không được dùng những đồ vật sắc bén để đẩy lửa hay gạt lửa. Tục cho rằng, như thế sẽ làm thương tổn đến thần lửa, mạo phạm đến chủ của lửa. Khi ăn cơm, uống rượu thì đầu tiên là nhỏ một vài giọt rượu vào trong lửa và nói một vài câu chúc phúc. Nếu không cũng bị xem là đắc tội với thần lửa; nếu tạt nước vào lửa thì càng bị cấm kỵ. Người Ngạc Luân Xuân, người Hách Triết cũng có những cấm kỵ như vậy. Khi buộc phải dùng nước tạt vào lửa, thì người Hách Triết phải nói:“Xin thần lửa nhích chân qua một tý”, cho rằng việc nhắc nhở ấy sẽ khiến cho thần lửa không bị thương.

Không được làm thương hay là ô uế đến thần lửa. Những thứ dơ bẩn thì bị cấm không được vất vào lửa. Người Ngạc Luân Xuân cấm kỵ không được nhổ đàm, tiểu tiện, đổ vật bẩn vào trong lửa. Khi làm cơm, nếu không cẩn thận và để nước cơm tràn xuống lửa, thì ngay lập tức phải cầu xin thần lửa đừng giận, thậm chí còn phải gom khói để đền tội. Người Hách Triết, người Ngạc Luân Xuân còn cấm kỵ không được dùng chân đạp lửa, chà trên lửa. Rất nhiều các tộc người như người phương Nam, người Di, người Ngạc Luân Xuân, Ngạc Ôn Khắc, người Hách Triết đều cấm kỵ không được tự tiện bước ngang qua lửa, đặc biệt là đàn bà, và càng không được bước ngang qua đống lửa. Bình thường, khi phụ nữ đốt lửa làm cơm, thì không được ngồi chồm hổm hướng về phía ông táo, và cũng không được ném những thứ có mùi như hành tỏi vào trong lửa. Tộc người Cao Sơn còn cấm không để bệnh nhân ngồi ăn cơm nơi gần đống lửa.

CẤM KỴ ĐỐI VỚI NHỮNG CON SỐ

Trong cuộc sống thực tiễn lâu dài, con người cũng có rất nhiều cấm kỵ liên quan về con số, vì vậy mà người ta con số cũng có sự khác biệt giữa tốt lành và hung hiểm. Những con số tốt lành thường là số chẵn, vì người ta thường nói sự tốt thì thành đôi; trong thời gian cưới hỏi của người vùng Dương Châu, người ta thích chọn những ngày có mang con số sáu, bởi vì khẩu ngữ có câu: “sáu sáu đại thuận lợi”.

Trước đây, các thương nhân khi đi xa thì thường chọn ngày mang số tám để xuất hành, đó là do dựa vào lời tốt lành “muốn phát đạt thì không rời số tám” mà có sự chọn lựa như vậy. Những con số bị kiêng kỵ là những con số mà người ta cho rằng nó mang ý nghĩa nguy hiểm, nếu không cô độc, ly tán thì cũng là lâm chung, chết chóc, chúng đều là những điều rất xấu. Từ một cho đến một trăm, ta cũng đã có rất nhiều những con số mà cần phải tránh chúng.

Số “một” cũng đã bắt đầu cho sự kiêng kỵ. “Một” là số lẻ, nếu như tặng lễ vật cho ngày hôn lễ hay chúc thọ của người khác thì kỵ không tặng vật mang con số lẻ, lễ vật gặp mặt của người kết hôn tặng cho kẻ bề dưới thì cũng kỵ con số lẻ, ở đây cũng mang một hy vọng “sự tốt thành đôi”.

“Hai” tuy là số chẵn nhưng cũng bị kiêng kỵ trong một số trường hợp. Như khi tặng lễ cho người bị bệnh hoặc cho tang gia thì lại kiêng kỵ số cặp đôi. Đối với tộc người Mãn, người Triều Tiên, người phương Nam thì họ kỵ không chuyển cữu vào ngày chẵn, bởi vì ai lại muốn chuyện không mong muốn mà lại đi thành cặp thành đôi bao giờ.

Kỵ số “ba” (三sān), vì nó hài âm với chữ “ly tán” (散sàn). Đối với người vùng Dương Châu, khi mừng thọ thì kiêng con số này, gọi là nam không làm “ba”, nữ không làm “bốn”, tức là chỉ năm tuổi “ba mươi” và “bốn mươi”. Trên một tầng ý nghĩa thì “ba mươi” và “bốn mươi” tuổi là con số không lớn, không thể mừng thọ được, ở một tầng ý nghĩa khác thì “ba” (三sān) và “ ly tán” (散sàn), “bốn” (四sì) và “chết chóc” (死sǐ) hài âm với nhau, sẽ không tốt. Nhưng ngược lại thì nam có thể mừng thọ lúc bốn mươi, và nữ có thể mừng thọ lúc ba mươi tuổi, ở đây là chỉ nhằm phá được ly tán và chết chóc mà thôi. Thời xưa, người phụ nữ không có địa vị, rất sợ bị ly tán, nếu làm thọ “ba” rồi thì sẽ không sợ bị ly tán nữa, con đàn ông thì khi làm thọ “bốn” rồi thì cũng phá được phép, nếu phải chết thì cũng không chết được.

Kỵ con số “bốn” (四 sì), ví nó hài âm với “chết chóc” (死sǐ). Vì vậy mà có một vài khu vực miền Đông Bắc kiêng kỵ con số bốn, nên phàm là con số bốn thì đều bị kiêng kỵ.

Kỵ con số “năm”, người xưa xưa kỵ sinh con vào ngày năm tháng năm âm lịch. Ngày mùng năm kỵ không phơi chiếu nệm, kỵ lợp nhà, vì cho rằng làm như thế đều không tốt.

Kỵ con số “bảy”, có câu cấm kỵ rằng “mùng bảy không đi, mùng tám không về”, ở đây có nghĩa là phụ nữ không được lựa ngày mùng bảy và ngày mùng tám để đi ra ngoài và trở về nhà. Dương Châu có câu tục ngữ: “gặp bảy không thuận”, đó là do trong xã hội phong kiến xưa có luật “thất xuất” đối với phụ nữ, nếu phạm vào trong bảy điều luật ấy thì đàn ông có quyền thôi vợ. Kỵ số tám, vì số tám 八 là bộ thủ của chữ phân 分, sợ rằng sẽ phải biệt ly.

Kỵ con số “chín”, vì vùng Gia Hồ ở Hàng Châu đều cân thể trọng vào ngày lập hạ, sau khi cân xong phải báo số, nhưng không báo con số chín, nếu gặp số chín thì phải báo làm số “mười”, bảo là lấy điều cát lợi. Ở một số khu tập thể của người Dư thì cấm viết con số “chín”, vì trong thần thoại truyền thuyết thì tổ tiên của tộc người Dư là con thần khuyển, mà khuyển 犬và cửu 九lại có dạng tự tương cận nhau, vì vậy mà kỵ con số chín.

Những con số của tháng bị cấm kỵ là tháng giêng, tháng hai, tháng năm, tháng bảy, tháng chín âm lịch. Ở Triết Giang trước đây, người ta không làm nhà vào tháng giêng, tháng chín; không xây bếp vào tháng hai, tháng tám. Trước đây, ở khu vực người phương Nam và một vài khu vực tộc người khác, người ta kiêng không kết hôn vào năm, bảy, chín, vì cho rằng đó là những con số không tốt.

Kỵ con số “mười tám”, người Dư kỵ để con trai con gái kết hôn vào lúc mười tám tuổi, người ta cho rằng, nếu kết hôn vào lúc ấy thì sẽ gặp phải “mười tám nạn”.

Kỵ con số “hai mươi” (nhị thập), khi người Triết Giang đọc từ “nhị thập” đến “nhị thập cửu” thì người ta đọc là “trấp nhất”, “trấp nhị” cho đến “trấp cửu”. Nghe bảo rằng, vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, Ngô Vương có một người con gái tên là Nhĩ Thích 尔释, bị mắc xương cá mà chết. Nhĩ Thích (ěr shi) có âm đọc tương cận với “hai mươi” (èr shí), Ngô Vương mỗi lần nghe thấy chữ “hai mươi” bèn nhớ đến con gái Nhĩ Thích của mình mà khóc. Để kỵ húy Nhĩ Thích, nên người đời sau đổi “nhị thập” (二十hai mươi) thành “trấp” (廿 hai mươi).

Kỵ con số “ba mươi sáu”, ở suốt một dãy vùng Hồ Bắc đến Trường Dương, người ta nói số ba mươi sáu (tam thập lục) là giờ khắc nguy hiểm, vì vậy mà kỵ đọc đến số này. Khi ghi vào sổ số người mang lễ vật, khi viết đến con số ba mươi lăm người thì để rống con số ba mươi sáu, sau đó viết tiếp con số ba mươi bảy. Có người nói rằng, sở dĩ kỵ dùng con số ba mươi sáu là do Chu Du của Đông Ngô xưa chết vào lúc ba mươi sáu tuổi.

Kỵ con số “bốn mươi lăm”, theo “Biện Lương tỏa ký” thì: “Dân gian đất Biện lưu truyền rằng: Lão Bao (Chửng) phụng mệnh Trần Châu đi phát lương, giữa đường bị cướp, chỉ có Kiều Trang Vương Bát thoát ra khỏi vòng nguy hiểm nên mới tránh đuợc nạn. Lúc ấy, ông vừa đúng bốn mươi lăm tuổi, nên dân gian cho rằng vào cái tuổi bốn mươi lăm thì tất sẽ có ách nạn, do vậy mà phải tránh nói đến số bốn mươi lăm tuổi, đa số là đổi sang bốn mươi bốn hoặc bốn mươi sáu để tránh nạn vậy”.

Kỵ con số “bảy mươi ba”, “bảy mươi bốn”, tục ngữ có câu: “Vào năm tám bốn bảy ba, Diêm Vương không thỉnh thì ta cũng về”. Nghe nói rằng, Khổng tử (Khâu) chết vào năm bảy mươi ba tuổi, Mạnh tử chết vào năm tám mươi bốn tuổi, thế nên ngươi ta mới lấy con số này làm con số đại kỵ, nếu như có thể qua được tuổi bảy mươi ba, thì cũng giống như vừa nhảy qua được một cái cánh cửa nạn tai, sau này có thể sống đến tám mươi bốn tuổi. Và cũng tương tự, khi đến cái cửa ải tám mươi bốn tuổi mà cũng vượt qua được thì có thể hy vọng là sống đến trăm tuổi.

Kỵ con số “tám mươi mốt”, đối với khu vực Hồ Châu Triết Giang, phàm là những người hưởng dương thọ vừa đúng tám mươi mốt tuổi mà lìa đời thì người ta cho rằng, khí số đã tận, vì chín lần chín tám mươi mốt, người đời sau sẽ lâm vào cảnh bần cùng. Vì vậy nên người ta phải tháo dỡ bàn tính ra, đợi đến khi người chết ngừng thở thì ném bàn tính ấy ra cửa sổ, cho rằng như thế sẽ phá được tai họa.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGÀY TẾT, NGÀY LỄ

Dân gian cho ngày lập xuân là ngày đầu của một năm canh nông, vì vậy mà có tập tục bói ngày này xem được mùa hay mất mùa. Tục cho rằng, ngày lập xuân thì nên nắng chứ không nên mưa. Trời nắng thì có điềm là được mùa, còn trời âm u thì báo điềm thiên tai. Ở vùng Sơn Đông, tục cho rằng, nếu ngày lập xuân mà trời âm u thì sâu mọt sẽ làm hại lúa đậu. Ở khu vực Thái Dương, người ta còn kỵ không được khấy nước và không được đào bới tro, vì cho rằng, khuấy nước thì sẽ khiến cho tinh thần trong năm đó sẽ không được phấn chấn, lúc nào cũng ngủ gà ngủ gật; không đào bới tro, vì như thế tức là đào bỏ đi tất cả sự may mắn trong cả một năm.

Dân gian cho rằng, ngày kinh trập (tức là mùng năm hoặc mùng sáu tháng ba) là thời khắc bắt đầu có sấm. Nếu ngày kinh trập và những ngày sau ngày kinh trập mà nghe thấy tiếng sấm thì đó là điều bình thường, năm đó tốt, gió thuận mưa hòa, ngũ cốc đầy bồ. Tục ngữ nói: “Sấm đánh kinh trập thóc lúa rẻ”. Vì vậy, trước ngày kinh trập thì người ta kỵ nghe thấy tiếng sấm.

Ở vùng Sơn Đông, vào tiết xuân phân thì kỵ trời nắng. Dân gian thường trồng cây vào ngày xuân phân, nếu ngày ấy trời sáng tỏ thì mọi việc không thành. Vào tiết xuân phân, người Dư cấm không được khều phân, cấm mang quần áo đến bên sông giặt giũ, và cũng cấm không được phơi đồ.

Trong dân gian, người phương Nam có tập tục trồng liễu vào ngày thanh minh. Vào tiết thanh minh, người đi quét mộ cần phải cúng bái tổ tiên, và cũng phải phòng sự quấy nhiễu của quỷ sùng. Vì trong dân gian, người ta tin rằng cây liễu có pháp lực dùng để khu tà đuổi ma một cách có hiệu quả, vì vậy mà người ta mới cắm liễu trên đất hay mang liễu bên mình nhằm để đề phòng bất trắc. Do thanh minh là vào ngày tết hàn thực, nên trước đây, dân gian không động đến bếp lò, kỵ ăn đồ nóng. Nếu không, sẽ bị thần phạt tội. Ngạn ngữ có câu: “Thanh minh không ăn đồ nguội, mưa đá rơi đầy trên đất”. Người vùng Sơn Đông còn có tập tục những người phụ nữ trẻ tuổi đi tránh thanh minh, vì nghe rằng, vào ngày này thì hung thần sẽ hạ phàm và bắt các cô gái xinh đẹp. Vào ngày này, phụ nữ kỵ không được thêu thùa, may vá, tất cả đều phải đi ra ngoài đạp thanh, chơi đùa trong tiết xuân.

Ngoài ra, trên mối quan hệ với việc canh nông, trong tiết thanh minh thì người ta còn kỵ trời âm u, mưa rơi hoặc mạnh. Tục cho rằng, nếu thanh minh mà trời không trong sáng thì đó là điềm triệu của một năm mất mùa. Nếu trong tiết thanh minh mà có gió lùa, thì đó là điềm trời hạn; nếu thanh minh mà trời đổ mưa, thì lúa mạch sẽ không được tốt.

Vào ngày lập hạ thì kỵ không có mưa. Ở các vùng Hà Nam, Quý Châu, Vân Nam, người ta đều cho rằng, vào ngày lập hạ mà không có mưa thì đó là điềm hạn hán. Ngạn ngữ có câu: “Lập hạ không mưa, thật không có gạo”. Ngày lập hạ là ngày bắt đầu của mùa hạ, mà dân gian lại sợ cái nóng nực của mùa hạ nên mới có tập tục cân trọng lượng cơ thể. Nghe nói rằng, sau khi cân trọng lượng cơ thể vào ngày hôm ấy, thì sẽ không sợ cái nóng nực của mà hạ nữa, và cũng sẽ không gầy ốm nữa. Nếu không, họ sẽ rất sợ cái nóng ấy, khiến ăn cơm không ngon, và sẽ ốm o đến nỗi thành bệnh. Ở vùng Giang Tây, người ta còn có tập tục uống trà vào ngày lập hạ, nếu như không uống thì sẽ phải khổ cả mùa hè. Ở vùng Đông Đài Giang Tô, vào ngày lập hạ thì cấm không được để trẻ em ngồi ở ngạch cửa, vì người ta bảo rằng “ngày lập hạ ngồi trên ngạch cửa thì dễ ngủ gật”.

Tiết hạ chí là tiết khí quan trọng nhất đối với việc canh nông. Người ta cho rằng, sự thay đổi xấu của ngày hạ chí sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với việc làm nông. Vì vậy mà vào ngày hạ chí, nhà nông có rất nhiều kiêng kỵ. Trong “Thanh Gia Linh” có viết: “Hạ chí là thời khắc chuyển giao,…” cư dân có rất nhiều kiêng kỵ như cấm nguyền rủa, kiêng hớt tóc…”, vào kỵ nhất là có mưa có sấm vào ngày hạ chí. Ngạn ngữ nói: “Hạ chí có sấm thì tháng sáu hạn, hạ chí có mưa thì ba tháng nóng”. Trước đây, nhà nông còn phân mười lăm ngày từ hạ chí đến tiểu thử ra thành ba thời đoạn là thời đầu (thượng thời), thời hai (trung thời) và thời cuối (hạ thời), gọi là tam thời, với cách chia là ba ngày vào thời đầu, năm ngày vào thời hai và bảy ngày vào thời cuối. Tục kỵ mưa vào thời hai và kỵ sấm vào thời cuối, vì sẽ ảnh hưởng đến lượng thu hoạch. Vì vậy, tốt nhất là không nên mưa và không nên sấm vào suốt khoảng thời gian từ của tiết hạ chí.

Lập thu cũng là một tiết khí lớn đối với nhà nông, dân gian rất xem trọng nó. Thời xưa, người vùng Vân Nam cấm kỵ đi đứng giữa đồng vào ngày lập thu, nếu không, người ta cho rằng sẽ gây bất lợi cho vụ thu hoạch mùa thu. Những người có học thức thì thường dùng giấy đỏ viết lên câu cầu sự tốt lành “hôm nay lập thu, trăm bệnh đều khỏi” để dán lên trên vách. Phụ nữ cũng dùng vải đỏ để cắt thành hình quả hồ lô (bầu), đính lên phía sau quần của trẻ để khu trừ bệnh tật. Ở vùng Thái Dương tỉnh Sơn Đông, cấm kỵ tắm rửa vào ngày lập thu, nếu không, người ta cho rằng trên người sẽ mọc rôm sảy. Ở Hoàng Huyện, người ta cho rằng nếu tắm vào ngày lập thu thì sau khi qua ngày lập thu sẽ bị tiêu chảy. Ở vùng Hà Nam, Giang Tô, Hồ Bắc, vào ngày lập xuân còn kỵ sấm, mưa, gió. Tục có câu: “Trước thu gió bắc sau thu mưa, sau thu gió bắc khô tận đáy”.

Tiết lập đông báo hiệu một mùa đông đã đến. Trong dân gian, người ta kỵ không được ăn đồ nguội lạnh, như củ cải, trái cây. Nếu không, sẽ gây tổn thường đến sức khỏe. Ngày lập đông cũng kỵ không có mưa, ngạn ngữ có câu: “Tiết Trùng Dương mà không mưa thì lập đông nắng, tiết lập đông không mưa thì nắng cả năm”.

Mùng một tháng giêng, tục gọi là “mùng một của năm”, “đầu năm”, “nguyên đán” v.v, ở đây có nghĩa là ngày thứ nhất trong năm, vì vậy mà dân gian rất xem trọng ngày này. Những cấm kỵ phát sinh trong ngày này là rất nhiều. Ví dụ như tộc người Choang, vào mùng một tháng giêng thì phải thức dậy lúc trời vừa sớm, nam thì đọc sách ngâm thơ, nữ thì tưới nước thêu hoa, sau khi thức dậy rồi thì không được ngủ lại, cho rằng, nếu ngủ lại thì sẽ khiến cho căn cơ ruộng đất, tường nhà bị sụp đổ; vào mùng một không được sát sinh, cũng không được ăn thịt lợn. Vào ngày này, chủ yếu là ăn đồ ngọt, như bánh trôi, bánh tét, cháo gạo…, hoặc là vào buổi chiều thì có thể ăn một ít đồ mặn. Không được nói tục, vì cho rằng nếu ăn nói tục tĩu vào ngày này thì cả năm sẽ rất hay nói tục, và cũng không được đánh mắng người khác, người bị đánh mắng cho rằng mình sẽ bị suy, sau này sẽ thường bị người khác đánh mắng; khi đốt lửa, không được gạt lửa than đang cháy đỏ trên củi, mà để tự nó rơi xuống, nếu gạt than củi thì sẽ khiến cho lưỡi cày đất ruộng sẽ bị gãy, bừa đất thì cuốc bị gãy, phụ nữ cầm kim thì kim bị gãy; suốt ngày ấy không được quét nhà, vì cho rằng quét nhà thì cũng chính là quét tiền tài ra khỏi cửa; không được sử dụng trâu cày, mà còn phải cho nó ăn thức ăn tốt. Mọi người đều cho rằng, vào ngày này thì chỉ được nói những điều tốt lành, làm những chuyện chính đáng, nếu như ngày hôm đó mà thất bại thì cho rằng, suốt cả năm ấy cũng sẽ thường gặp thất bại; nếu ngày hôm ấy bị xui xẻo thì cho rằng suốt cả năm ấy đều bị xui xẻo. Ở vùng Hồ Nam thì người ta kỵ khi ăn tết mà không có cá. Vào tháng giêng, khi mời khách dùng cơm thì trong hai đĩa cá chỉ được ăn một đĩa, còn đĩa kia là đĩa chỉ để nhìn. Đó là do lấy ý nghĩa của câu “có dư (ngư) thì có lợi”. Khi ăn cá thì kỵ không bẻ gãy xương sống nối liền đầu với đuôi, nhằm để lấy cái ý nghĩa là “có dư (ngư) mà không thiếu”.

Trong dân gian, “Tết Đoan ngọ” còn gọi là “tết Đoan dương”. Họ cho rằng, đó là một ngày bất cát bất lợi, nên có lưu hành tập tục “tránh ngọ”. Những đứa trẻ chưa đầy tuổi thì phải dẫn về nhà ngoại để tránh né. Ở một dãy đất miền Bắc, mọi nhà đều cắm nhánh cây ngải lên bên cửa, phía trên thì treo hồ lô giấy…, để nhờ đó mà tránh tà trừ tai nạn. Còn trẻ em thì đeo những hình con chó nhỏ, hình người nhỏ làm bằng bông vải, tránh làm mất, nếu không, trong năm ấy tất sẽ có tai nạn lớn. Sau khi tránh qua ngày Đoan ngọ, thì cần phải đem những thứ đã đeo trong người ấy vứt xuống nước để tiêu trừ tại họa. Người tộc Thủy thì cấm ăn đồ mặn trong ngày Đoan ngọ, mà chỉ được ăn chay. Ở vùng Sơn Đông, vào ngày Đoan ngọ thì kỵ mưa hoặc sương mù, gọi là “mưa chủ nạn sâu, mù chủ nạn lụt”.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NÔNG NGHIỆP

Là một nước nông nghiệp lớn, dân số làm lao động theo nghề nông luôn chiếm ưu thế tuyệt đối. Đối với việc sản xuất nông nghiệp, trong thời kỳ khoa học kỹ thuật chưa phát triển, thì người ta chủ yếu là ăn cơm của trời, những hy vọng về một vụ thu hoạch đều được ký thác vào sự bảo hộ, che chở và sự ban ơn của thần linh, vì vậy mà cần phải cúng tế theo định kỳ, không được có chút chểnh mảng, và do vậy mà đã hình thành nên rất nhiều tập tục cấm kỵ. Tục cho rằng, hạt giống nảy mầm tự nhiên không hoàn toàn là vì điều kiện thích hợp, mà là vì sự thành khẩn cúng tế thần minh của con người, khiến cảm động đến trời xanh, mới làm cho hạt thóc nảy mầm, sinh trưởng và chín vàng. Vì vậy, trong lao động sản xuất nông nghiệp có rất nhiều những hoạt động tế tự có định kỳ và không định kỳ mà người ta cần phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Trong thời gian tế tự thì luôn phải ngừng lại mọi hoạt động sản xuất, dồn hết sức lực để dảm bảo cho việc cúng tế được tiến hành một cách thuận lợi. Sau này, tuy rằng có một số hoạt động tế tự có định kỳ không còn được thực hiện nữa, nhưng những tập tục cấm kỵ sản xuất vào trong ngày này hoặc trong những ngày này thì vẫn còn được lưu truyền.

Thời gian ăn tết là khoảng thời gian mà hoạt động cúng tế được tập trung nhiều nhất, bởi vì phần lớn thời gian dành để ăn tết đều có quy ước tập tục cấm chỉ mọi hoạt động lao động sản xuất. Nghe nói rằng, nếu trong thời gian này mà cày bừa thì sẽ xung phạm đến thần linh, khiến trăm việc trong năm ấy đều không suôn sẻ; hoặc là bị thiên tai, sâu bệnh, mất mùa. Rất nhiều tộc người còn có tiết lệnh cho thời gian nông nghiệp, vào ngày ngày tiết khí thì cấm không được sản xuất. Ví dụ như người Dư, người Bạch đều kỵ xuống ruộng cày bừa vào ngày tiết Xuân phân, Thanh minh, Đại thử, Tiểu thử, Lập thu. Người ta bảo rằng, như thế là vì sợ đào phải địa mạch long thần, mùa màng sẽ không tốt. Người Thái thì kỵ không được lao động vào ngày Đông chí, nếu không, họ cho rằng trâu ngựa sẽ bị chết. Nhiều tộc người khác như người Bạch, người Dư, người Di đều kỵ xuống ruộng lao động trong thời gian những ngày mùng tám tháng hai, ngày mùng ba tháng ba, ngày đuốc lửa (tức ngày 24, 25 tháng sáu âm lịch), ngày phân long (tức trước và sau ngày hạ chí). Người ta bảo rằng, nếu xuống ruộng vào thời gian này thì sẽ chạm đến Long thần, cắt đứt nguồn nước, mùa màng sẽ không được tốt, hoặc là bị sâu bệnh, vì vậy mà cấm không được xuống ruộng; người Dư lại kỵ xuống ruộng cõng nước vào ngày bảy tháng bảy, cho rằng, nếu xuống ruộng cõng nước vào ngày này thì sẽ gặp phải ma nước, khiến cho ruộng lúa bị hư; tộc người Mục Lao thì cần phải làm nghi thức tế thần tập thể vào ngày mười lăm tháng tám, lúc ấy, mọi người sẽ ngưng lại mọi công việc sản xuất, cùng tụ tập lại ăn cơm với nhau.

Ở một vài tộc người khác hoặc ở một vài khu vực khác, vào một vài ngày đặc biệt nào đó thì cũng kỵ không được lao động sản xuất. Thời xưa, người Thổ Gia đều không xuống ruộng canh tác vào ngày mùng năm, ngày mười lăm và ngày hai mươi lăm. Tục cho rằng, mỗi khi gặp con số năm thì gọi là “phá ngũ”, mà phá thì tất sẽ không tốt, vậy nên cấm không canh tác; người tộc Bạch, tộc Di đều kỵ lao động vào ngày mùng một, ngày mười lăm, e rằng sẽ khiến bị mất mùa, thiên tai; người phương Nam ở Hồ Bắc và người Di, người Mao Nam đều có tập tục kỵ cày bừa, trồng trọt vào ngày Tuất, nếu không, những cây lúa mạch trời trồng này sẽ làm chết người; người Hani cũng có tập tục kỵ sản xuất vào ngày Mùi, ngày Hợi, ngày Tý, vì cho rằng như thế là để tránh tai họa giáng xuống. Ngày Hợi trong thời gian tết Sa Nhân của người Choang cũng là ngày kỵ, vào ngày này, bất kể là người ở trong nhà hay là người đi xa, chỉ có thể thảnh thơi ăn uống, tất cả đều cấm kỵ không được làm việc gì, nếu không sẽ bị mọi người chỉ trích. Các tộc người phương Nam, người Di, người Thủy, người Mục Lao, người Bố Y, người Choang… đều có tập tục cấm cày ruộng khi nghe thấy tiếng sấm.


Vào những ngày hung họa bất tường thì cũng bị cấm kỵ không được canh tác. Ví dụ như tất cả các hoạt động nông nghiệp quan trọng như cày, trồng, thu hoạch mùa màng của người Tạng ở Thanh Hải đều phải được cầu thần bói quẻ, chọn ngày tốt lành, sau đó mới được phép làm việc. Nếu như ngày đó không được tốt, thì không dám tiến hành; người Ngõa, người Bạch khi trong nhà có người chết, mà nhất là chết dữ, thì cả trại đều bị cấm không được lao động sản xuất một ngày; nếu không, sẽ gặp phải nạn sâu hại. Khi trong trại có người chết, dã thú vào trại, chó trèo lên nóc nhà, bị hỏa hoạn…, thì người Hani đều cho đó là ngày kỵ, phải ngừng mọi công việc lại. Nếu nằm mộng thấy điều không tốt thì cũng kỵ sản xuất. Trong các hoạt động chặt đầu người, lấy đầu người cúng vào trong hốc cây, chặt đuôi bò… thì cũng có quy định kiêng kỵ không được lao động sản xuất. Nếu không, người ta cho rằng sẽ gặp phải các tai nạn như bệnh, nạn gió, nạn mưa; khi người Di sinh con, thì cả nhà người ấy cũng không được xuống ruộng đồng canh tác ngay vào ngày hôm đó.

Trong nông nghiệp, ngoài việc sử dụng cấm kỵ không sản xuất để phòng tránh tai nạn xảy ra, thì trong lúc sản xuất cũng có rất nhiều sự việc cần phải kiêng kỵ, tránh né. Ví dụ như ở một vài tộc người, thì khi hoạt động sản xuất nông nghiệp, đầu tiên cần phải tiến hành một vài nghi thức tế tự, sau đó mới có thể làm việc. Đối với người Ngõa ở Vân Nam, khi chưa tế trại thần và gia thần thì không được phép vãi hạt giống, nếu không, ngũ cốc khi lớn lên sẽ không tốt. Trong nghi thức vãi hạt giống, người ta cần phải đem hạt giống của các sản vật nông nghiệp như lúa, dưa, kê, bông để vãi xuống vào trong phần đất với tính tượng trưng, không được vãi ra ngoài phần đất, vì như thế tức là tỏ thái độ bất kính đối với thần đất, sẽ chọc giận thần và sẽ bị trừng phạt.

Đối với người Bạch và một sô tộc người khác, khi sạ gieo mạ và cấy mạ thì đều cấm không được nói những lời không tốt, nếu không, người ta cho rằng sẽ ảnh hưởng đến lượng thu hoạch của năm đó. Thời xưa, người Tạng ở Thanh Hải cấm đào suối trên núi, cấm mở đường nước, vì cho rằng như thế thì sẽ đắc tội với Long thần, tất sẽ gặp tai nạn như lụt lội hay hạn hán, hoặc sẽ khiến cho người mắc bệnh hủi mà chết. Tộc người Thủy cũng cấm kỵ không được đào giếng, sửa cống, vì cho rằng có thể sẽ đào đứt long mạch, khiến nông sản bị giảm sản lượng. Người Thủy và người Thái lại có cấm kỵ “nam không cấy mạ, nữ không cày bừa”. Nhưng người Dao lại có tập tục cấm người nữ cấy mạ, vì họ cho rằng nếu để đàn bà cấy mạ thì không trúng mùa được. Người Ngạc Ôn Khắc cho rằng, nếu để người già gieo giống thì mùa màng sẽ không được tốt, mà người gieo giống tất phải là những người thanh niên mạnh khỏe. Tục còn cho rằng, khi gieo giống thì không được đến gần phần mộ, nếu không thì cũng sẽ ảnh hưởng đến mùa màng. Người Mao Nam thì cấm kỵ huýt sáo trong khi làm ruộng, vì cho rằng, tiếng huýt sáo là tiếng quái dị so với tiếng nói thường, tiếng huýt sáo sẽ khiến ác ma đến làm sùng, khiến nông sản sẽ bị thất thu. Ngoài ra, khi làm ruộng thì người Mao Nam cũng cấm kỵ không được nói đến chim chóc, dã thú. Người ta cho rằng, nếu nhắc đến chim và thú vào lúc này thì sẽ khiến chim thú đến dẫm đạp lên làm nguy hại cho mùa màng, khiến giảm lượng thu hoạch.

Khi trồng cây bông, cây kê thì người Thủy cũng cấm kỵ không nói đến những lời liên quan đến cây bông, cây kê, e sẽ xung phạm đến chúng. Khi trời hạn hán thì không được gánh nước tưới mầm cây, vì cho rằng làm như thế là trái lại với ý trời, mùa màng sẽ không tốt. Đối với người Túc Lật, người Di, khi xuống ruộng thì cấm kỵ không được vác những nông cụ lên vai, như cái cuốc chẳng hạn, vì người ta cho rằng, chỉ có chôn cất cho người chết thì mới vác như thế. Ở vùng Trú Mã Điếm Hà Nam, vào ngày gieo giống thì không cho phép trẻ em ăn cơm. Khi thu hoạch lúa mạch thì cần phải tế sam (cúng tế khi gặt), khi vận chuyển vào bãi thì phải tế cổn (cúng tế khi lăn thóc về). Trong bãi đập lúa mạch thì cấm không để phụ nữ và trẻ ở truồng bước vào. Khi đến mùa thu hoạch, thì càng cấm kỵ không được nói những lời bất cát bất lợi. Khi lương thực đã đem về đến bãi, thì kỵ người khác hỏi thăm là mỗi mẫu trồng được bao nhiêu cân, kỵ để người khác nhẩm tính tổng sản lượng là được bao nhiêu cân, và cũng không được nói những câu kiểu như “sắp thu hoạch lương thực xong rồi nhỉ?”.






越南道教 - 道教神仙 - 越南道士 Đạo Giáo Thần Tiên Việt Nam

Còn tiếp >>>Bài cuối

Nguồn: thantienvietnam

Share:

लोकप्रिय पोस्ट

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn

Recent Posts

Unordered List

  • Lorem ipsum dolor sit amet, consectetuer adipiscing elit.
  • Aliquam tincidunt mauris eu risus.
  • Vestibulum auctor dapibus neque.

Label Cloud

10 điều đại kỵ trong nhà ở và cách hóa giải (1) 7 sai lầm phong thủy cần chú ý (1) 83 VỤ (1) Ai vái lạy ai (1) an táng (1) ẢNH HƯỞNG (2) AQUA (1) Ất Sửu (2) Ất Tỵ (1) Bài thuốc dân gia (1) bán mở hàng (1) BÁT TRẠCH CHUYÊN SÂU (2) bệnh gút (1) Bệnh gút. Phương thuốc chữa trị bệnh (1) bệnh liệt dương. Đậu đen (1) BẾP (2) Bếp ăn gần phòng vệ sinh: Kiêng kị và cách hóa giải (1) Bính Dần (2) Bính Ngọ (2) Bính Thìn (2) Bính Tuất (2) Bính Tý (2) Bosch (1) bổ thận tráng dương. đậu đen (1) Bố trí bàn trà phòng khách theo phong thủy (1) Bùi Long Thành (2) Cá trê hầm đậu đen. suy giảm tình dục (1) CÁC VỊ TRÍ ĐẶT BẾP (2) CÁCH BỐ TRÍ VĂN PHÒNG GIÚP LỘC VÀO NHƯ NƯỚC (1) Cách hóa giải bếp dựa vào cửa sổ (1) Cách hóa giải hướng xấu cho nhà tắm (1) Cách hóa giải khi ngõ đâm thẳng vào nhà (1) Cách tính Trùng Tang (1) Can chi (1) Canh Dần (2) Canh Ngọ (2) CẢNH QUAN BÊN NGOÀI (2) Canh Thân (2) Canh Thìn (2) Canh Tuất (2) Canh Tý (2) cáo tổ tiên (1) CĂN NHÀ (2) Cân Lượng (1) CẦU TỬ BÍ PHÁP (2) Cây dong riềng. trị bệnh mạch vành (2) Chàng trai (1) chiếc kim (1) chọn ngày (1) chọn ngày giờ tốt căn bản (2) CHỌN NGÀY TỐT (1) CHỌN NGÀY TỐT CĂN BẢN CHO 83 VỤ (2) chữa bệnh (1) có phù dâu (1) Coi bói số (3) Coi bói số Tử vi (2) Coi bói số Tử vi trọn đời cho TUỔI DẦN: Giáp Dần (2) Coi bói số Tử vi trọn đời cho TUỔI HỢI: Ất Hợi (2) Coi bói số Tử vi trọn đời cho TUỔI MÃO: Ất Mão (2) Coi bói số Tử vi trọn đời cho TUỔI MÙI: Ất Mùi (2) Coi bói số Tử vi trọn đời cho TUỔI THÂN: Bính Thân (2) Coi bói số Tử vi trọn đời cho TUỔI THÌN: Giáp Thìn (2) Coi bói số Tử Vi trọn đời cho TUỔI TUẤT: Giáp Tuất (2) Coi bói số Tử vi trọn đời TUỔI DẬU: Ất Dậu (2) Coi số Tử vi trọn đời cho TUỔI TÝ. Tử vi (2) con người thật (2) con nuôi (1) Con so về (1) Công suất (1) CƠ SỞ KINH DOANH (2) Cung mệnh (1) CUNG VÀ SAO (2) CỬA CÁI (2) Cửa Sổ (2) Cửa thông (2) cưới hỏi (40) Daikin (2) Daikin âm trần (1) Daikin Inverter (1) Dạy con (1) Deawoo (1) DỌN DẸP SAU KHI CÓ ĐẠI TANG (2) DU LỊCH TÂM LINH (1) dùng trị liệt dương (1) DƯƠNG TRẠCH TAM YẾU (2) Đại kỵ cấu trúc 'cửa đối cửa' trong nhà (1) Đại sư HUỆ NGHIÊM (2) đàn bà tái giá (1) Đạo hiếu (1) đào hoa (1) đao ly (4) Đạo thầy trò (1) Đạt Ma (1) ĐẠT MA DỊCH CÂN KINH (1) ĐẠT MA DỊCH CÂN KINH "CẢI CÁCH" (1) đặt tên chính (1) Đề phòng và hóa giải sao Thái tuế trong năm 2013 (1) điều hòa (2) điều hòa LG Inverter (1) Đinh Dậu (2) Đinh Hợi (2) Đinh Mão (2) Đinh Mùi (2) Đinh Sửu (2) Đinh Tỵ (1) độc thân (2) động tác gì (1) Đuôi bổ theo bài (3) đưa dâu (1) Đừng xem thường "mũi tên độc" trong phong thủy (1) Đường thông (2) Electrolux (2) ễ thành phục (1) Funiki (1) Funiki Inverter (1) gà trống phong thủy (1) gan yếu (1) gia lễ (1) Gia phả (1) Giao thiệp (11) Giáp Tý (2) Giỗ Tết tế lễ (1) giờ (1) gói quà (1) gỡ bí (1) GƯƠNG SOI (2) hạp và kỵ của 12 trực (2) HITACHI (2) Hóa giải cửa hàng ở ngã ba (1) Hóa giải hướng nhà cho gia chủ sinh năm 1957 (1) Hóa giải hướng nhà phạm đao sát (1) Hóa giải phong thủy phòng ngủ tăng đường con cái (1) Hóa giải xung đột giữa các bé bằng vài mẹo nhỏ về phong thủy (1) Học khí công (2) HỘI NHẬP CON NGƯỜI THỰC (4) HUỆ NGHIÊM (2) HUYỀN KHÔNG BÁT TRẠCH (2) HUYỀN MÔN PHONG THỦY (9) HUYỆT NGUY HIỂM (1) INVERTER (7) kén giống (1) khai sinh (1) khao lão (1) Khắc phục hướng cổng chính không tốt như thế nào? (1) khâm liệm (1) KHÍ CÔNG DƯỠNG SINH (4) Khi ngôi nhà " trúng mũi tên độc" (1) KHUYẾT (2) KÍCH HOẠT CÁC CUNG BÁT QUÁI (2) KIẾN THỨC DỊCH LÝ (2) KIẾN THỨC PHONG THỦY (19) KIẾN THỨC TRẠCH NHẬT (9) Kiết Tú là Sao (2) KINH NGHIỆM CẢI TÁNG (4) Kỷ Dậu (2) Kỷ Hợi (2) Kỷ Mão (2) KỲ MÔN ĐỘN GIÁP (10) Kỷ Mùi (2) Kỷ Sửu (2) Kỷ Tỵ (1) làm lạnh (1) làng xã (1) lãnh cảm (1) Lấy vợ (1) le thai binh (1) Lễ lại mặt (1) Lễ tang (2) lễ trọng (1) Lễ vấn danh (1) Lễ xin dâu (1) LG INVERTER (1) Liệt dương (1) lỗi điều hòa (2) lời chào (1) ly hôn (1) ma chơi (1) MÃ lỗi (17) mã lỗi Daikin (1) Mã lỗi Điều hòa (1) mã lỗi máy giặt (3) mã lỗi Samsung Inverter (1) MÃ LỖI TỦ LẠNH (1) Mảnh đất xấu về phong thủy và cách hóa giải (1) Mảnh đất xấu về phong thủy và cách hóa giải (Bài 2) (1) Màu sắc (2) máy giặt (12) máy giặt LG (2) máy giặt Samsung (1) MÁY GIẶT SANYO (1) máy giặt Toshiba (1) MÁY GIẶT TOSHIBA NỘI ĐỊA (1) máy lạnh LG (1) máy lạnh LG inverter (1) MẬT TÔNG (7) MẬT TÔNG-ĐẠO PHÁP-HUYỀN MÔN (36) Mậu Dần (2) Mậu Ngọ (2) Mậu Thân (2) Mậu Thìn (2) Mậu Tuất (2) Mậu Tý (2) Mẹ chồng (1) mẹ cô dâu (1) Miếng trầu (1) Mitsubish (1) Mitsubishi (2) Mitsubishi Inverter (1) Mối lái (4) NATIONAL (2) ngã năm như thế nào? (1) NGÀY GIỜ TỐT (2) Ngày kiêng (1) Ngày Kim Thần Thất Sát (1) ngày tết (1) ngày tốt (2) ngày tốt xấu (2) ngày xấu (1) ngày xấu trong tháng (2) NGHIỆM CHỨNG DỊCH LÝ (9) NGHIỆM CHỨNG PHONG THỦY (37) NGHIÊN CỨU PHONG THUỶ (10) NGHIÊN CỨU PHONG THUỶ ÂM TRẠCH (30) NGỌC HẠP THÔNG THƯ (1) Ngũ Hành (2) Nhà ở gần đường trên cao và cách hóa giải (1) Nhà phạm hướng Thái Tuế: Lý giải và hóa giải (1) Nhà phạm Tuyệt mệnh hóa giải thế nào? (1) Nhà vệ sinh (2) Nhâm Dần (2) Nhâm Ngọ (2) Nhâm Thân (2) Nhâm Thìn (2) Nhâm Tuất (2) Nhâm Tý (2) Nhập gia (1) nhuộm răng (1) Những biện pháp hóa giải các hung tinh của năm 2013 (1) Những cấm kỵ phong thủy với từng không gian sống (1) Những điều cần lưu ý trong phong thủy chung cư (1) Những điều đại kỵ trong phong thủy nhà ở và văn phòng năm 2013 (1) Panasonic (2) PANASONIC INVERTER. Mã lỗi Điều hòa PANASONIC (1) PHÁC HỌA CHÂN DUNG (4) PHẦN LỒI (2) PHẬT GIÁO (4) PHÒNG KHÁCH (2) Phòng ngủ (2) Phòng tắm (2) Phong Thủy (6) PHONG THỦY ÂM TRẠCH (30) Phong thủy cao cấp (8) PHONG THỦY CHO VIỆC ĐÀM PHÁN (2) PHONG THỦY CỔ THƯ (16) Phong thủy cơ bản (22) PHONG THUỶ DÀNH CHO DOANH NGHIỆP (2) Phong thủy hóa giải sao Tam Sát và Tuế Phá năm 2013 (1) PHONG THUỶ HỌC (19) PHONG THỦY HƯƠNG HOA LÀM CON CÁI VÂNG LỜI CHA MẸ (2) PHONG THỦY LẠC VIỆT (37) Phong thủy nâng cao (7) PHONG TỤC - TÍN NGƯỠNG (1) phong tục việt nam (45) phu thê (1) PHỨC TRẠCH (2) Phương pháp chọn ngày giờ tốt căn bản (2) Quý Dậu (2) Quý Hợi Nam Mạng – Ất Hợi (2) Quý Mão (2) Quý Mùi (2) Quý Sửu (2) Quý Tỵm (1) rau mồng tơi (1) Ruộng hương hỏa (1) SAMSUNG (1) Samsung Inverter (1) SANYO (1) Sắp đặt nội thất để hóa giải hướng nhà xấu (1) sắp xếp Sao (2) SHARP (1) SINH TÀI VƯỢNG VỊ VÀ VIỆC ĐẶT THẦN TÀI (2) SONG SƠN NGŨ HÀNH (2) SƠN CHỦ (2) Tam nương sát (1) Tăng sinh lực. đuôi lợn (1) Tân Dậu (2) Tân Hợi (2) Tân Mão (2) Tân Mùi (2) Tân Sửu (2) Tân Tỵ (1) thách cưới (1) Thảm trải (2) thăm bệnh (1) thận hư (1) Thập Ác (1) theo ngày tháng năm (1) thien viet (1) THIÊN Y TRẠCH (2) Thờ Cúng (4) thờ vọng (1) thủ tục (1) THƯƠNG LƯỢNG (2) Tía tô. Tía tô chữa bệnh gút (1) Tiền nạp (1) Tín Tổ Tiên (4) Tín Ngưỡng (4) tóc thề (1) TOSHIBA (3) tơ hồng (1) trai tơ (1) trấn đài hoa (1) Trần nhà (2) trị gút dứt điểm (1) trong cùng họ (1) trong họ (1) truyền thống (1) tủ lạnh (1) tu vi (8) tục kiêng (1) tui vi (2) tuổi dân (2) tuổi hợi (2) tuổi mão (2) TUỔI SỬU (2) tuổi thìn (2) tử huyệt (1) TỨ LỘ HOÀNG TUYỀN (2) Tử vi (1) TỬ VI TRỌN ĐỜI (12) Tử vi trọn đời cho TUỔI NGỌ: Giáp Ngọ (2) Up rom (1) ử vi trọn đời cho TUỔI TỴ (1) việc an táng. (1) việc họ (1) Việc nhà nông (1) việc nhập học (1) việc xuất quân (1) vợ cả (1) vợ chồng (2) VỤ ĐỊNH LÀM (2) xem ngày (1) XEM NGÀY TỐT XẤU (7) Xiaomi (1) Xích Tùng Tử (1) xin quần áo cũ (1) Xuất xứ của tục chọn ngày chọn giờ (1) Xưng hô (2) Yến lão (1)

Sample Text

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation test link ullamco laboris nisi ut aliquip ex ea commodo consequat.

Pages

Theme Support

Need our help to upload or customize this blogger template? Contact me with details about the theme customization you need.